TSP's Weblog

Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ

Tìm hiểu về xã hội công dân

Posted by Thái Trịnh on 08/06/2012

Xã hội công dân (Civil society, XHCD) là một khái niệm khá mới mẻ, hiện chưa có một nhận thức tương đối thống nhất. Nhân dịp nước ta đang chuẩn bị sửa Hiến pháp, chúng tôi xin trình bày một vài tìm hiểu còn rất sơ sài về đề tài này.

Xã hội và xã hội công dân

Có thể hiểu XHCD là một hình thức xã hội tự quản, khi toàn dân đều tham gia quản lý xã hội một cách có tổ chức, có trật tự; sự tự quản ấy vận hành song song với sự quản trị xã hội của bộ máy nhà nước.

Các triết gia từ cổ đại đến hiện đại đều quan tâm vấn đề xã hội tự quản, muốn dùng nó để thay thế cho hình thức xã hội được quản lý bằng bộ máy quyền lực nhà nước, bởi lẽ họ đã thấy rõ những mặt tiêu cực vốn có của quyền lực. Sử gia Lord Acton có một danh ngôn: Quyền lực dẫn tới tha hóa và quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối [1]. Sự tha hóa (tức biến chất xấu đi; nguyên văn corrupt, còn dịch là tham nhũng) phổ biến nhất là lợi dụng quyền lực để mưu lợi riêng; lịch sử cho thấy đây là nguồn gốc dẫn đến sự mục ruỗng và sụp đổ có tính tự sát của tất cả các chính quyền chuyên chế, kể cả tại các nước XHCN như Liên Xô và Đông Âu. Rõ ràng, khi trình độ tự quản xã hội càng cao thì bộ máy quyền lực càng được thu nhỏ, do đó hạn chế được mức độ tha hóa của nó.

Karl Marx đầu tiên đưa ra ý tưởng xã hội tự quản khi tiến lên chủ nghĩa cộng sản – khi ấy nhà nước đã tiêu vong, xã hội sẽ hình thành chế độ tự quản xã hội cộng sản. Nói cách khác, Marx coi xã hội tự quản cộng sản là hình thức cao nhất, sau chót, mãi mãi tồn tại của xã hội loài người; khi ấy không còn bộ máy quyền lực nữa (vì nhà nước đã tiêu vong). Việc Marx đánh giá cao xã hội tự quản càng cho thấy chúng ta rất cần xây dựng XHCD như một giải pháp hiệu quả nhất để giảm sự tha hóa của bộ máy quyền lực và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Marx cho rằng: – Xã hội tự quản đã có từ trước khi xuất hiện xã hội có giai cấp, dưới chế độ công xã nguyên thủy; – Với sự phân chia xã hội ra thành các giai cấp đối kháng, nó được thay bằng tổ chức chính trị của xã hội mà cơ sở là nhà nước; – Sự phát triển dân chủ XHCN sẽ lôi cuốn tất cả công dân tham gia quản lý xã hội, hình thành tự quản xã hội cộng sản [2].

Ở đây Marx đã nêu ra điều kiện tất yếu để hình thành xã hội tự quản: phát triển dân chủ. Nghĩa là khi toàn dân được hưởng tất cả các quyền dân chủ thì mới có thể hình thành xã hội tự quản.

Xã hội tự quản cộng sản có thể là đỉnh cao của XHCD, song nó chỉ là sản phẩm do bộ óc vĩ đại của Marx nghĩ ra. Rõ ràng nhà nước chỉ tiêu vong khi toàn thế giới cùng lúc tiến lên chủ nghĩa cộng sản – điều đó quá ư xa xôi, vì thế hiện nay chưa thể bàn thảo.

XHCD nói trong bài này là một hình thức xã hội tự quản hiện đang tồn tại ở một số quốc gia, khi nhà nước chưa tiêu vong, tức chưa tiến đến chủ nghĩa cộng sản. Nó là một thực thể gồm vô số các tổ chức công dân (TCCD, còn gọi là đoàn thể công dân) tồn tại độc lập với nhà nước, nhằm phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân, giúp nhà nước thực hiện quản lý xã hội một cách tốt nhất, hạn chế các nhược điểm cố hữu của quyền lực, đạt mục tiêu chính quyền nhỏ, xã hội lớn. Hiển nhiên XHCD kiểu này thấp hơn xã hội tự quản cộng sản nhưng nó có khả năng thực hiện ngay từ bây giờ, ở mọi nơi, dưới chế độ XHCN hoặc chủ nghĩa tư bản (CNTB), vì thế rất cần tìm hiểu, thảo luận.

XHCD là một tất yếu lịch sử, bởi lẽ phát triển dân chủ là một xu thế tiến tới không thể ngăn cản của loài người. Đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay đã xuất hiện các TCCD có tính toàn cầu, vì thế có người nêu ra khái niệm XHCD toàn cầu. Đó là các tổ chức phi chính phủ (NGO, Non-Government Organization) hoạt động trên toàn cầu và có tác động lớn không chính phủ nào dám coi thường; thí dụ các tổ chức Ân xá quốc tế, Theo dõi Nhân quyền, các tổ chức tôn giáo, hoặc các quỹ từ thiện lớn. Tại Trung Quốc năm 2004 có hơn 2000 NGO quốc tế được cấp phép hoạt động, số lượng NGO không cấp phép còn nhiều hơn. Đầu tháng 12/2011 Ân xá quốc tế đang đòi các chính phủ châu Phi bắt giữ cựu Tổng thống Mỹ Bush con vì tội cho phép tra tấn tù nhân tại nhà tù ở Guantanamo, nhân chuyến đi thăm châu Phi của ông này. Năm 2009 nước Nga có 277 nghìn NGO; Ấn Độ có khoảng 3,3 triệu NGO. Mỹ hiện có hơn 2 triệu NGO với hơn 9 triệu nhân viên, kinh phí hoạt động hàng năm hơn 500 tỷ USD (do dân tự nguyện đóng góp); viện trợ hàng năm cho các nước nghèo lớn hơn viện trợ nhân đạo của chính phủ Mỹ. Cá biệt quỹ từ thiện có tài sản vài chục tỷ USD, tương đương GDP một quốc gia trung bình. Tiền làm từ thiện do dân Mỹ hàng năm quyên góp lớn gấp 2-3 lần GDP nước ta. Lực lượng hùng hậu của các TCCD khiến chính phủ phải lắng nghe ý kiến, quan điểm của họ.

Tiền đề tất yếu để hình thành XHCD là mọi công dân đều được hưởng các quyền con người cơ bản như tự do ngôn luận, tự do hội họp, mít tinh biểu tình, tự do lập hội, sở hữu tài sản… Khi ấy con người được coi là yếu tố quan trọng nhất; chính quyền chỉ là cơ quan phục vụ dân. Sách Giáo dục công dân dùng trong các trường học ở Mỹ viết: Khi chính quyền là đầy tớ của bạn thì bạn được tự do; khi chính quyền là chủ nhân của bạn thì bạn sẽ như kẻ nô lệ [3]. Khi không ai muốn làm nô lệ nữa thì dĩ nhiên sẽ hình thành XHCD như một tất yếu lịch sử.

XHCD gồm có lĩnh vực tư nhân, các tổ chức xã hội, lĩnh vực cộng đồng công dân và các phong trào xã hội.

Lĩnh vực tư nhân chủ yếu là nói về đời sống cá nhân hoặc gia đình; trong lĩnh vực này các cá nhân được hưởng quyền tư hữu tài sản, các quyền tự do dân chủ và quyền giữ bí mật riêng tư. Ở đây cần nhấn mạnh: thừa nhận quyền tư hữu tài sản là điều kiện tất yếu để hình thành XHCD cũng như nền kinh tế thị trường. Nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai Sáng thế kỷ XVII, triết gia duy vật John Lock nói: Người ta gia nhập xã hội là để bảo vệ tài sản của họ [4]. Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Walter Lippmann cho rằng quyền tư hữu tài sản là nguồn gốc ban đầu của tự do [5]. Rõ ràng, khi người dân có tài sản của riêng mình thì mới thực sự có tự do; càng có nhiều tài sản thì càng được tự do hơn. Người không có hoặc có ít tài sản thì không thể bình đẳng thực sự với người giàu, và quyền tự do cũng bị hạn chế. Nói tự do dân chủ mà phủ nhận quyền tư hữu tài sản là tự mâu thuẫn. Người vô sản là người khát khao tự do nhất.

Các tổ chức xã hội của công dân (TCCD, còn gọi là đoàn thể công dân), là những hội đoàn không kiếm lời do công dân tự nguyện tổ chức vì lợi ích chung của cộng đồng (hoặc của xã hội, của thế giới). Hệ thống TCCD tồn tại độc lập với nhà nước (nhưng có thể được nhà nước tài trợ). Nó là chủ thể của XHCD, làm nên sức mạnh của XHCD, góp phần tăng cơ hội và trình độ tham gia công việc chung của công dân. Sự xuất hiện các TCCD là nét đặc trưng chủ yếu của XHCD. Có thể dùng số lượng TCCD để đánh giá trình độ XHCD. TCCD càng hoàn thiện, số lượng càng nhiều thì mức độ tự quản xã hội càng cao, xã hội phồn vinh, phát triển lành mạnh. Tại Mỹ, các TCCD được coi là một trong ba cột trụ lớn của xã hội (hai cột trụ kia là chính quyền và khối doanh nghiệp).

Hình thức TCCD rất đa dạng, như các tổ chức phi chính phủ (NGO), hội ngành nghề, công đoàn, câu lạc bộ, hội (quỹ) từ thiện, đoàn luật sư, các Think-tank v.v… TCCD có tác dụng rất lớn phát huy trí tuệ, ý thức trách nhiệm và đạo đức của từng người dân, thể hiện quan điểm, nguyện vọng của dân chúng trước hiện trạng xã hội hoặc chủ trương chính sách của chính quyền, đấu tranh bảo vệ công lý và quyền lợi của dân, đòi hỏi chính quyền lắng nghe dân, đề xuất giải pháp về các vấn đề đối nội đối ngoại, giúp chính phủ tránh được những quyết sách sai lầm. Thí dụ ở Mỹ khi thấy các đập lớn thủy điện gây hại rất lớn cho môi sinh, từ thập niên 50 các TCCD bảo vệ môi trường bắt đầu đấu tranh ngăn chặn việc xây đập. Họ gặp sự chống đối từ các công ty kinh doanh thủy điện; các công ty này gây sức ép với chính phủ, vì thế chính phủ chần chừ không quyết. Các TCCD kiên cường đấu tranh; kết quả đến thập niên 70 chính phủ Mỹ thông qua Luật bảo vệ vĩnh viễn các con sông và bắt đầu dỡ bỏ một số đập thủy điện (đã dỡ hơn 600 đập), đến thập niên 90 thì dừng hẳn việc làm các đập ngăn sông.

TCCD có mấy đặc điểm khác với các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế: – Là tổ chức dân lập, phi chính phủ; – Có tính độc lập tương đối với chính quyền nhưng không loại trừ sự tham gia của chính quyền; – Không kiếm lời (non-profit); – Có tính tự nguyện.

Lĩnh vực cộng đồng công dân là tên gọi chung của mọi không gian để công dân gặp gỡ, trao đổi ý kiến, hình thành quan điểm chung và dư luận. Truyền thông và mạng Internet, nhất là các mạng xã hội (social network) và báo điện tử đang trở thành bộ phận quan trọng của lĩnh vực này và là phương tiện chủ yếu phát triển XHCD, tác động chẳng kém phong trào xã hội, lại có ưu thế là không ai ngăn chặn được. Việc thăm dò dư luận hiện nay phổ biến tiến hành trên mạng, vừa nhanh vừa phủ rộng, nhanh chóng hình thành sức ép dư luận. Qua mạng, người ta liên kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau (như giúp người gặp khó khăn). Các mạng xã hội như Facebook, Netlog, Twitter… kết nối mọi thành viên không quen biết (nhất là giới trẻ) có sở thích hoạt động trên mạng; họ có thể giao lưu, chia sẻ thông tin, lập quan hệ, thúc đẩy sự liên kết giữa các cá nhân và TCCD mà không bị giới hạn về địa lí và thời gian. Mạng Internet tạo ra một xã hội ảo vĩ đại, nhanh chóng liên kết mọi người không phân biệt dân tộc, quốc tịch thành những TCCD ảo có sức mạnh chính trị thật sự đủ để lật đổ mọi chính quyền độc tài ngoan cố. Phong trào nổi dậy ở xứ A Rập không có truyền thống cách mạng là thí dụ đầu tiên về sức mạnh của xã hội ảo. Trung Quốc hiện có hơn nửa tỷ dân mạng, hơn 300 triệu blogger; gần đây dân mạng đã dùng microblog (weibo) tạo ra sức ép dư luận xã hội cực lớn đối với các tệ nạn như ức hiếp dân, tham nhũng, giấu thông tin thật v.v… góp phần quan trọng thúc đẩy dân chủ hóa chính trị. Khi phong trào Chiếm phố Wall nổ ra, giới trẻ Mỹ mở ngay hơn 200 trang Facebook và Twitter nói về phong trào này. Nhằm tập hợp hơn 1.000 người biểu tình tại Washington Square Park hôm 15/10, họ nêu khẩu hiệu: “Nếu bạn nằm trong số 99%, thì đây là cuộc biểu tình của bạn”. Kết quả có gần 700 người trả lời khẳng định sẽ có mặt.

Phong trào xã hội (chủ yếu nói các phong trào có nòng cốt là tầng lớp trung lưu, thành phần chính trong XHCD) với hình thức chính là mít tinh, biểu tình quần chúng, nhằm thể hiện mạnh mẽ ý chí nguyện vọng của dân, gây sức ép đòi chính phủ sửa các chính sách sai. Các phong trào này thường nảy sinh khi đông đảo nhân dân bất mãn về thực trạng xã hội hoặc chủ trương chính sách sai lầm của nhà nước. Chính quyền rất khó đối phó với các phong trào quần chúng, nếu họ không gây mất trật tự trị an thì chính quyền không thể đàn áp. Phong trào tiến về Washington (1963) do mục sư da đen Martin Luther King dẫn đầu có 200 nghìn người tham gia đưa đến kết quả ngay năm sau Quốc hội Mỹ thông qua Luật Dân quyền (Civil rights bill) cấm các hành vi phân biệt đối xử về bầu cử, việc làm, nhà ở. Các cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ chống chiến tranh Việt Nam năm 1967-1969 dẫn đến việc chính phủ Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến này năm 1973. Nếu không có các phong trào đấu tranh thì rất khó buộc chính phủ Mỹ sớm thay đổi chính sách, vì chính phủ chịu sức ép rất lớn từ các nhóm lợi ích cực đoan có thế lực rất mạnh như nhóm phân biệt chủng tộc, tổ hợp quân sự-công nghiệp (military-industrial complex), giới trùm tài chính phố Wall.

Xã hội công dân Mỹ hiện nay

Nước Mỹ có XHCD sớm, lớn mạnh và hoạt động hiệu quả nhất; tìm hiểu nước Mỹ sẽ có cái nhìn cụ thể về XHCD.

Ý tưởng XHCD xuất hiện ngay từ ngày mở đầu lịch sử nước Mỹ và mang đậm dấu ấn tín điều tôn giáo. Ngày 21/11/1620, sau 66 ngày vượt Đại Tây Dương, chiếc thuyền buồm Hoa Tháng Năm (Mayflower) chở 102 người cặp bờ Cape Cod tại Bắc Mỹ. Đây là những người Anh theo đạo Tin Lành vì không chịu nổi sự hãm hại của vua Anh mà liều mình bỏ tổ quốc trốn sang Tân Thế Giới để tìm kiếm một cuộc sống mới. Trước đó, ngày 11/11, tin rằng mình đã nằm ngoài phạm vi phán xử của bất kỳ chính phủ nào, 41 đàn ông lớn tuổi trong số 102 người hành hương ấy đã tự nguyện ký một giao ước gọi là Công ước Hoa Tháng Năm (Mayflower Compact, được soạn thảo bởi các nhà lãnh đạo họ bầu ra), cam kết sẽ thiết lập một chính quyền tự quản (self government) trên nguyên tắc tự do, bình đẳng, công bằng của đạo Tin Lành [6].

Đây là văn bản đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ xác lập ý tưởng xã hội tự quản. Đó cũng là ý tưởng chung của tất cả các nhóm người Anh theo đạo Tin Lành tự nguyện bỏ nước Anh đang rên xiết dưới chế độ phong kiến sang châu Mỹ xây dựng cuộc đời tự do, trong đó có tốp người trên con thuyền Hoa Tháng Năm. Các cộng đồng dân định cư (settlers) ấy lập ra các “thuộc địa”, về sau hợp nhất thành Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Ý tưởng nói trên do họ đề xướng rất cao cả và hợp lòng người, vì vậy cũng được tất cả những người về sau di cư đến nước Mỹ (immigrants) tán thành. Nhờ thế nước này có điều kiện thuận lợi nhất để hình thành XHCD, không phải mất nhiều năm đấu tranh vì việc đó như ở các nước khác.

Như vậy là trong khi tất cả các quốc gia đều được thiết lập trên cơ sở những người cùng dân tộc, tiếng nói và truyền thống văn hóa, – gọi chung là quốc gia-dân tộc (Nation-state) – thì nước Mỹ là quốc gia duy nhất được thiết lập trên một nền tảng độc đáo: tất cả mọi người đều có chung một ý tưởng, cho dù nước này gồm nhiều dân tộc từ hơn 100 nước trên thế giới đến, khác nhau về huyết thống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhiều thứ.

Samuel Huntington cho rằng ý tưởng đó thể hiện “các nguyên tắc tự do, bình đẳng, chủ nghĩa cá nhân, chính quyền thay mặt cho nhân dân, và sở hữu tư nhân”, “là sự sáng tạo độc đáo của văn hóa Tin Lành” [7]. Hơn 150 năm sau, nó được ghi vào Tuyên ngôn Độc lập rồi Lời nói đầu (Preamble) Hiến pháp Mỹ. Năm 1917 lại được Thư ký Quốc hội Mỹ William Tyler Page viết thành một văn bản chẵn 100 từ cho dễ nhớ, gọi là Niềm tin của người Mỹ (The American’s Creed), và được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 3/4/1918 [8]. Niềm tin ấy trở thành ý thức hệ có một không hai của nước Mỹ.

Người Mỹ tin rằng mọi người sinh ra bình đẳng, được tạo hóa ban cho các quyền tự do dân chủ; tin rằng chính quyền dân cử là của dân, do dân, vì dân, là đầy tớ của dân. Vào thời ấy những ý nghĩ này thật xa lạ với người dân các nước khác, kể cả hầu hết châu Âu đang sống dưới chế độ phong kiến, chính quyền là kẻ cai trị, áp bức bóc lột dân.

Người Mỹ tin rằng nước họ không có phân biệt giai cấp; chỉ có một loại người là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng không bình đẳng về kết quả, và ai cũng có quyền sở hữu tài sản (hiện nay 68% dân Mỹ và 65% người Mỹ gốc Việt có nhà riêng kiểu biệt thự). Nông dân (hiện chiếm 0,7% số dân, hầu hết là chủ nông trại), công nhân (working class, chiếm khoảng 13% số dân) hoặc nhà tư bản (1% số dân) đều là công dân. Phân chia theo thu nhập thì xã hội Mỹ có hai thiểu số người giàu, người nghèo và một đa số trung lưu chiếm khoảng 80% số dân [9]. Các tín đồ Tin Lành cho rằng nghèo do lười là tội lỗi. Người nghèo, kể cả hành khất và thất nghiệp, cũng tin rằng nếu chịu khó phấn đấu thì sẽ giàu có, cho nên họ không ghen ghét hoặc chống lại người giàu. Ở Mỹ người giàu được tôn vinh, coi là tấm gương phấn đấu thành đạt, nhất là người tay trắng làm nên. Nhìn chung xã hội Mỹ không có mâu thuẫn nội bộ gay gắt, lực lượng xã hội có khi đấu tranh (thậm chí quyết liệt) với chính quyền nhưng không dùng bạo lực, đảo chính hoặc cách mạng lật đổ chính phủ.

Tuy hầu hết người Mỹ có cùng ý tưởng xây dựng một xã hội tự quản nhưng để thực hiện điều đó họ phải đấu tranh lâu dài, gian khổ, thậm chí đổ máu, bởi lẽ có không ít nhóm người vì lợi ích riêng mà xâm phạm lợi ích của đa số nhân dân. Sau khi trải qua các thời kỳ thuộc địa, chiến tranh độc lập (1775-1781) và nội chiến (1861-1865), tình hình chính trị ổn định dần, nước Mỹ ráo riết tiến hành công nghiệp hóa, nhờ đó kinh tế tăng trưởng nhanh, đất nước ngày một phồn vinh, hình thành tầng lớp trung lưu đông đảo, là các điều kiện khách quan và cơ sở xã hội để xây dựng XHCD. Đồng thời nhà nước ban hành các đạo luật về quyền tự do lập hội đoàn công dân, các tổ chức dân sự v.v.. tạo cơ sở pháp lý để XHCD phát triển tới mức như ngày nay.

XHCD Mỹ có mấy đặc điểm: – Có rất nhiều tổ chức tự nguyện của công dân; – Nhà nước tách rời tôn giáo; – Thực hành chủ nghĩa liên bang (khác với chủ nghĩa quốc gia ở châu Âu); – Bảo vệ tự do cá nhân như một giá trị của đạo Tin Lành; – Đạo đức xã hội văn minh và phong phú.

Dĩ nhiên muốn có XHCD thì phải giải quyết mối quan hệ giữa riêng với chung, cá nhân với xã hội, lợi ích của cá nhân với đạo đức xã hội, chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa lợi tha. XHCD Mỹ dựa trên chủ nghĩa cá nhân và sự tham dự của cá nhân vào sinh hoạt xã hội nhưng sự tham dự ấy thực hiện theo các khế ước (thỏa thuận) và ràng buộc của các mối quan hệ đạo đức, kinh tế, xã hội, chính trị. Điểm tựa chủ yếu để XHCD tồn tại là tinh thần lý trí, nghĩa là mỗi cá nhân đều phải hành xử một cách có lý trí, tôn trọng công lý, biết tự chủ, có ý thức bình đẳng, tức không xâm phạm lợi ích người khác. Đề cao cá nhân là đề cao quyền tự do định đoạt số phận của mỗi người, chứ không phải là tự do vi phạm luân lý đạo đức, xâm phạm lợi ích chung và lợi ích của người khác.

Tính tự chủ của người Mỹ được phát huy cao bởi lẽ nước Mỹ chưa trải qua chế độ phong kiến như châu Âu. Điều đó làm nên nét đặc sắc của văn hóa chính trị XHCD Mỹ; nền văn hóa này nhấn mạnh tính đạo đức hoặc tính tôn giáo. Giáo lý phổ quát của đạo Tin Lành (Protestant Universalism) đề cao chủ nghĩa cá nhân chứ không phải chủ nghĩa tập thể, do đó đề cao nhân quyền và tư tưởng tự do, bình đẳng; nó trở thành nguyên tắc của nhà nước cộng hòa và của chính thể công dân (civic polity). Cá nhân được đặt ở vị trí cao nhất, nhưng đó là cá nhân biết tự chủ.

XHCD Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của thuyết Calvin [10]: chủ trương bảo vệ giá trị đạo đức của cá nhân, nhấn mạnh tính cộng đồng và trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng; mọi việc riêng tư của các cá nhân đều được xã hội quan tâm; các cá nhân được gắn giá trị cộng đồng.

Các nguyên tắc ý thức hệ mà người Mỹ tuân theo gồm: – Tiếp nhận giá trị và niềm tin của nước Mỹ; – Coi tính tự chủ của cá nhân là cốt lõi của nguyên tắc đoàn kết xã hội; – Các cá nhân phải tích cực tham dự xây dựng trật tự xã hội và chính trị, thành viên mọi TCCD đều phải tham gia sinh hoạt chung của xã hội.

XHCD Mỹ góp phần quan trọng vào việc quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Rất nhiều vấn đề nhà nước không thể làm được hết mà phải nhờ dân tự làm, như giúp người nghèo đói, già yếu, lang thang cơ nhỡ, trẻ mồ côi, bảo vệ môi trường, phòng chống ma túy, chống bạo lực gia đình v.v…Thí dụ mỗi khi tuyết rơi dầy, có nhiều thanh niên tự động lái xe chạy trên đường tìm giúp các xe bị kẹt trong tuyết. Sau biến cố 11 tháng 9, có nơi người dân tự tổ chức canh gác bên ngoài các cửa hàng của người Mỹ gốc A Rập để tránh bị những người quá khích đập phá. Trong cơn bão Katrina, có công dân bỏ tiền túi thuê máy bay lên thẳng đến vùng bị lụt cứu người. Lĩnh vực từ thiện thể hiện rõ nhất vai trò của các TCCD, mỗi năm hàng trăm tỷ USD được các quỹ từ thiện dân lập đưa tới tận tay người cần giúp, nếu để nhà nước làm thì khó tránh khỏi thất thoát lãng phí.

Nằm giữa hai lĩnh vực nhà nước và cá nhân, XHCD có tác dụng điều hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, tạo cơ hội để người dân thực hiện tốt nhất các quyền làm chủ đất nước. XHCD thấm nhuần tín điều tự do, bình đẳng và tồn tại độc lập với chính quyền đã trở thành động lực căn bản làm cho nền dân chủ Mỹ phát triển lành mạnh: dân thực sự làm chủ nhưng xã hội không hỗn loạn, toàn dân nghiêm chỉnh tôn trọng luật pháp và sự điều hành của chính quyền, ngay cả khi kinh tế khủng hoảng, suy thoái cũng vậy.

Hoạt động từ thiện ở Mỹ

Từ thiện là hoạt động quan trọng nhất trong XHCD Mỹ; khảo sát hoạt động này sẽ thấy rõ vai trò của XHCD. Thực chất của hoạt động từ thiện là sự tái phân phối công bằng của cải xã hội, nhằm đạt tới xã hội hài hòa, giảm mâu thuẫn nội bộ nhân dân chứ không đơn giản chỉ là thể hiện tình thương người. Vì thế từ thiện có cả ý nghĩa chính trị to lớn. Sau Thế chiến II, hoạt động từ thiện của người Mỹ được mở rộng ra ngoài nước; kinh phí giúp nhân dân các nước nghèo lớn hơn cả từ thiện trong nước.

Hoạt động từ thiện ở Mỹ đạt trình độ hoàn thiện cao và có quy mô lớn khó tưởng tượng, 2/3 số tổ chức xã hội ở Mỹ là tổ chức từ thiện. Năm 1953 nước Mỹ có khoảng 50 nghìn tổ chức từ thiện; năm 2008 con số này lên tới 1,4 triệu, với tổng tài sản chiếm 5% GDP nước Mỹ. Tiền quyên góp từ thiện bằng khoảng 1,8% GDP. Năm 2007, tổng số tiền quyên góp từ thiện ở Mỹ đạt kỷ lục 306 tỷ USD, gấp 3 lần GDP Việt Nam. Nếu không dành phần lớn số tiền này giúp các nước nghèo trên thế giới mà đem chia đều cho người Mỹ nghèo (giả thử là 20% số dân Mỹ, hoặc hơn 60 triệu người) thì mỗi người được hơn 5000 USD, cao hơn thu nhập bình quân đầu người Trung Quốc. Trong 306 tỷ nói trên có 229 tỷ USD là tiền góp từ các cá nhân (một nửa từ 10% các gia đình giàu nhất nước); 38,5 tỷ USD là tiền quyên góp của các quỹ từ thiện. Tiếp theo là tiền hiến tặng của những người qua đời, và của các công ty.

Từ thiện đã trở thành thói quen của người Mỹ. 70% các gia đình làm từ thiện, mỗi gia đình hàng năm góp bình quân 900 USD hoặc 2,2% tổng thu nhập; ngoài ra còn làm lao động công ích trị giá 1200 USD/năm góp cho từ thiện.

Người giàu ở Mỹ hăng hái làm từ thiện; họ không quên danh ngôn Chết trong giàu sang là cái chết ô nhục. Năm 2010, B. Gates cùng người giàu thứ hai là W. Buffett phát động Phong trào cam kết hiến tặng, kêu gọi các nhà giàu cam kết sẽ hiến ít nhất một nửa tài sản cho xã hội. 57 trong số 400 người giàu nhất nước Mỹ đã tham gia phong trào này. Gates và Buffett cam kết hiến 98 và 99% tài sản riêng.

Lịch sử làm từ thiện bắt nguồn từ truyền thống văn hóa dòng chính của nước Mỹ, đó là giá trị quan của những người Anglo-Saxon da trắng theo đạo Tin Lành (WASP, chủ yếu đến từ nước Anh). Đạo này cho rằng người giàu chỉ là người quản lý tài sản của Thượng Đế (tức xã hội); nghĩa là về pháp lý, tài sản do tư nhân sở hữu nhưng về đạo đức và giá trị quan thì mọi tài sản vượt quá mức chi dùng của cá nhân đều thuộc về xã hội. Tân Ước nói người giàu khi chết khó được lên Nước Chúa. Kinh Thánh viết mọi tín đồ phải góp 1 phần 10 thu nhập hàng năm của mình cho Thượng Đế để giúp người nghèo, gọi là thuế Tithe nộp cho nhà thờ (Church tax). Ngoài ra, người Mỹ có thói quen đề cao giá trị cá nhân và những người sống tự lập (self made man), chỉ kế thừa tinh thần chứ không kế thừa tài sản, coi việc được hưởng tài sản mình không làm ra là trái luân lý; cho rằng để lại tài sản lớn cho con chỉ làm chúng hư hỏng.

Tổ chức từ thiện đầu tiên ra đời ở Mỹ là Hội Kỹ nữ hoàn lương (Magdalen Society, lập năm 1800). Về sau nước Mỹ giàu lên, của cải dư dật, những người giàu dẫn đầu làm từ thiện. Năm 1911 vua sắt thép A.Carnegie lập Quỹ Carnegie New York, đặt nền móng cho hoạt động từ thiện hiện đại. Quỹ góp ngay 5,6 triệu USD cho công tác giáo dục, lớn hơn cả ngân sách giáo dục của chính phủ. Trước khi chết, Carnegie hiến 330 triệu USD cho Quỹ này.

Công lao lớn của Carnegie là đã sáng tạo mô hình Quỹ từ thiện vận hành theo nguyên tắc thương mại, quản lý Quỹ như quản lý công ty; như vậy vốn của Quỹ bảo tồn được lâu dài. Khi ấy làm từ thiện trở thành công việc phức tạp đòi hỏi trí tuệ, không đơn giản chỉ quyên góp tiền rồi chia cho người nghèo. Vì thế tỷ phú Bill Gates phải xin nghỉ hưu để chuyên trách quản lý Quỹ Bill & Melinda Gates (năm 2009 có tài sản hơn 33,5 tỷ USD) sao cho đồng tiền bát gạo tới được tay người nghèo. Ngày nay Quỹ từ thiện là các tổ chức xã hội hợp pháp dùng tài sản của tư nhân để tài trợ cho giáo dục, khoa học, y tế, vệ sinh công cộng và các sự nghiệp công ích khác, với trọng điểm là giáo dục, y tế, vệ sinh.

Có mấy yếu tố giúp hoạt động từ thiện phát triển mạnh. Thứ nhất, nước Mỹ ngày càng lắm người giàu, có nhiều của cải dư thừa để chia cho người nghèo. Năm 1880 cả nước có chưa đầy 100 triệu phú, năm 1916 đã có hơn 40 nghìn, trong đó có người sở hữu tài sản trên 100 triệu USD. Hàng năm các tạp chí Forbes, Fortune công bố danh sách người giàu nhất và người làm từ thiện nhiều nhất nước Mỹ, nhằm tôn vinh và nhắc nhở bổn phận nhân đạo của họ.

Thứ hai, Chính phủ Mỹ có biện pháp cụ thể khuyến khích dân làm từ thiện, như chính sách giảm hoặc miễn thuế thu nhập đối với người có quyên góp từ thiện, và áp thuế suất cao đánh vào tài sản thừa kế. Năm 1913, Chính phủ Mỹ bắt đầu thu thuế thu nhập cá nhân. Bốn năm sau, Quốc hội thông qua luật cho phép giảm thuế thu nhập đối với người dùng tiền hoặc hiện vật quyên góp từ thiện. Vì thế người giàu làm từ thiện là có lợi cho chính họ, lại được tiếng thơm.

Năm 1797 chính phủ Mỹ bắt đầu thu thuế tài sản thừa kế (thuế di sản, inheritance tax) để lấy tiền xây dựng hải quân. Từ năm 1916, thuế di sản trở thành thành thuế cố định, có thuế suất lũy tiến, phải nộp thuế rồi mới được thừa kế di sản (trừ tài sản để lại cho vợ hoặc chồng). Thí dụ để thừa kế di sản trị giá 10.000 USD, người thừa kế phải nộp 5000 USD. Di sản lớn chịu thuế suất 55%. Những người khôn ngoan đều hiến cho xã hội tài sản lớn họ được thừa kế. Rất nhiều người giàu trước khi chết đều hiến tài sản cho các tổ chức từ thiện.

Vì là sự tái phân phối của cải xã hội nên hoạt động từ thiện phụ thuộc vào tình hình kinh tế. Mấy năm nay kinh tế Mỹ suy thoái, tiền quyên góp từ thiện giảm theo. Ngoài ra, cá biệt quỹ từ thiện có hành vi gian dối hoặc tham nhũng cũng làm giảm lòng tin của dân chúng, do đó giảm lượng tiền quyên góp.

Xã hội công dân là một xã hội văn minh tiến bộ

Qua khảo sát XHCD Mỹ, có thể thấy các tổ chức công dân (TCCD) đã giúp người dân có được năng lực chưa từng thấy trong lịch sử để thực thi quyền làm chủ đất nước. Qua TCCD, mọi người có dịp thống nhất quan điểm trước các vấn đề chung, liên kết nhau giám sát hoạt động của chính quyền, bảo vệ lợi ích chung. Khi cần, họ có thể gây sức ép đòi chính phủ thay đổi chính sách hoặc người lãnh đạo và các đòi hỏi đó thực hiện trong khuôn khổ luật pháp.

XHCD phát huy được ý thức làm chủ, tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và lòng yêu nước của mỗi người dân, làm cho xã hội trở nên ổn định, trật tự, văn minh, đạo đức.

XHCD tạo sức ép buộc chính quyền phải lắng nghe dân, làm việc vì dân, công bằng, liêm chính; qua đó hạn chế sự tập trung quyền lực và hậu quả kèm theo như lạm quyền, độc đoán và tham nhũng. XHCD đã làm nước Mỹ thay đổi theo hướng có một chính quyền quy mô gọn nhẹ và thực sự phục vụ dân.

XHCD với hàng triệu TCCD tạo ra một nguồn vốn xã hội phong phú rất cần cho chính quyền, nhất là khi nước Mỹ ngày càng hiếm những lãnh tụ đức tài cao siêu như Lincoln, Wilson, F.Roosevelt. Các chính phủ Mỹ đều biết tận dụng nguồn vốn đó, nhất là nguồn trí tuệ nằm ở các trường đại học, Think-tank v.v.., nhờ thế tránh được những sai lầm chiến lược. Các TT đều dựa vào một hoặc một nhóm Think-tank nào đó chuyên tham mưu hiến kế về chiến lược đối nội đối ngoại và cung cấp cán bộ.

Các NGO, đặc biệt là hội Chữ thập đỏ, thường được chính phủ dùng làm kênh phi chính thức để giải quyết các vấn đề đối ngoại nhạy cảm mà chính phủ không tiện đứng ra làm.

XHCD còn giúp tái phân phối của cải cho người nghèo một cách công bằng, làm cho xã hội hòa hợp, đoàn kết, bớt mâu thuẫn nội bộ. Các NGO thực hiện tốt việc viện trợ nhân đạo quy mô lớn cho các nước nghèo, góp phần quảng bá trên thế giới các giá trị nhân đạo, nhân quyền, dân chủ, bình đẳng, qua đó nâng cao vị thế của nước Mỹ.

Vì XHCD san xẻ bớt công việc quản lý xã hội nên chính phủ Mỹ ủng hộ XHCD. Toàn bộ các tổ chức phi chính phủ đều được miễn thuế, một số được chính quyền tài trợ. Nhà nước coi trọng giáo dục ý thức công dân cho lớp trẻ. Sách Giáo dục công dân viết: Nếu chính quyền có sai trái thì bạn phải phê bình họ, như vậy là bạn có thái độ xây dựng. Nếu thấy nhà nước sai mà bạn vẫn nói là đúng, thì đó là thái độ phá hoại [3]. Chính quyền và xã hội hỗ trợ lẫn nhau cùng vì lợi ích của nước Mỹ, nhờ thế quốc gia này giữ được ổn định chính trị suốt hơn 200 năm nay, kể cả trong các cuộc khủng hoảng-suy thoái kinh tế nghiêm trọng.

XHCD góp phần quyết định khiến người dân cảm thấy mình thực sự là chủ nhân của đất nước; do đó họ thực lòng yêu tổ quốc – điều quý giá nhất không nhà nước nào không mong muốn. XHCD làm cho nước Mỹ có một dạng sức mạnh mềm hiếm thấy, khiến nước này luôn đứng đầu danh sách quốc gia thu hút dân từ các nước khác di cư đến, trong đó có nhiều nhân tài. Trung tướng Lưu Á Châu Chính ủy ĐH Quốc phòng Trung Quốc nhận xét: Nước Mỹ có một sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức, là quốc gia do nhiều triệu con người không yêu tổ quốc mình họp thành nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ [11].

Ghi chú

[1] “Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely.”

http://www.phrases.org.uk/meanings/absolute-power-corrupts-absolutely.html

[2]Từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học. A.M.Rumiantxep. Nxb Sự thật, Hà Nội 1986

[3] Tạp chí Tia Sáng số 14 (20/7/2011), tr. 32

[4] “The reason why men enter into society is the preservation of their property” http://thinkexist.com/quotation/the_reason_why_men_enter_into_society_is_the/211689.html

[5] “Private property was the original source of freedom. It still is its main bulwark”
http://quotes.liberty-tree.ca/quotes_by/walter+lippmann

[6] http://score.rims.k12.ca.us/score_lessons/symbols_freedom/pages/mayflower.html

[7] Who Are We? The Challenges to America’s National Identity. Samuel Huntington

[8] http://www.usflag.org/american.creed.html

[9] Vấn đề phân chia tầng lớp giai cấp ở Mỹ rất phức tạp (thí dụ hiện có nhiều triệu cựu chiến binh hưởng trợ cấp, rất khó xếp vào tầng lớp nào). Có nhiều cách phân chia khác nhau. Ở đây dùng cách của Dennis Gilbert. Mỹ hiện có 311 triệu dân. Trong đó có 11,60 triệu công nhân nhà máy (chiếm 9% working class); xét về thu nhập, họ thuộc tầng lớp trung lưu (lương trung bình mỗi giờ 15-20 USD). Người lao động nghèo chiếm 13% số dân. Tầng lớp nghèo chiếm 12%, chủ yếu là thất nghiệp.

[10] Calvinism: học thuyết thần học do John Calvin (1509-1564) đề xướng, phủ nhận uy quyền của giáo hội La Mã, chủ trương bất cứ ai cũng không được có quyền lực vô hạn, tín đồ phải làm tròn bổn phận công dân, nhấn mạnh nỗ lực của cá nhân chứ không coi trọng các định chế, loại trừ xu hướng huyền bí nặng về nghi thức. Có tác dụng thúc đẩy sự ra đời chủ nghĩa tư bản.

[11] Niềm tin và Đạo đức. http://tuanvietnam.net/2010-08-15-nieam-tin-va-dao-duc.

NGUYỄN HẢI HOÀNH (TẠP CHÍ TIA SÁNG)


Xã hội công dân ở Trung Quốc

Mặc dù đã tiến sang xã hội công dân nhưng thuật ngữ xã hội công dânvẫn bị coi là rất nhạy cảm ở Trung Quốc quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả nước này còn chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về xã hội công dân.

Trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội”, Đảng Cộng sản và Chính phủ “bao cấp” tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế-chính trị-văn hóa-tư tưởng v.v… Do thực thi cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung nên chính quyền bao biện làm cả hai chức năng chính trị và kinh tế (“chính phủ toàn năng”), quyền lực nhà nước bao trùm tất cả mọi lĩnh vực. Bộ máy của nhà nước vì thế rất cồng kềnh, hiệu suất thấp, phí tổn cao. Về nguyên tắc, toàn bộ cuộc đời mỗi người dân từ khi sinh ra cho tới khi chết đều được nhà nước “bao cấp” quản lý, kể cả suy nghĩ của họ. Dân chúng chỉ được hưởng những quyền tự do dân chủ hạn chế. Mỗi người đều bị buộc chặt vào “đơn vị công tác” cố định của mình (ở nông thôn là công xã nhân dân). Các đoàn thể quần chúng đều do Đảng lập ra và lãnh đạo, chỉ là nơi quản lý, giáo dục họ tuân theo sự lãnh đạo của Đảng; công dân không được phép tự do lập hội đoàn của mình. Trong nước chỉ tồn tại hai khu vực là nhà nước (gồm chính quyền, đảng, đoàn thể quần chúng do đảng lập ra và lãnh đạo) và cá nhân, hầu như không tồn tại lĩnh vực trung gian là xã hội, hoàn toàn không thể có xã hội công dân.

1. Quá trình hình thành và phát triển xã hội công dân tại Trung Quốc

Sau Hội nghị trung ương lần 3 khóa XI năm 1978, đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, tạo ra sự thay đổi long trời lở đất trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Trung Quốc.

Công cuộc cải cách thể chế kinh tế theo định hướng thị trường đã nâng cao đáng kể sức sản xuất xã hội và đời sống nhân dân. Đây là nguồn gốc sâu xa nhất làm cho các tổ chức dân gian có dịp phát triển nhanh chóng. Kinh tế thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải trở thành pháp nhân độc lập có quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, vì thế chính quyền và doanh nghiệp phải tách khỏi nhau. Trong cơ chế đó, quyền tự chủ của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt, tạo khả năng để một số hội đoàn ngành nghề và đồng nghiệp trở nên tương đối độc lập với chính quyền. Mặt khác, kinh tế thị trường làm tăng độ rủi ro của doanh nghiệp, giới doanh nhân phải lập ra các hội đoàn có tính ngành nghề để tự bảo vệ lợi ích của mình. Nhằm tìm kiếm môi trường cạnh tranh công bằng với khối doanh nghiệp quốc doanh, các chủ doanh nghiệp tư nhân cần lập các tổ chức tự nguyện để giúp đỡ nhau (như các câu lạc bộ doanh nhân).

Kinh tế thị trường thừa nhận sở hữu tư nhân, do đó tạo ra tầng lớp hữu sản, trong đó có tầng lớp trung lưu, vừa có của vừa có trí thức, họ hăng hái lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình, đòi mở rộng tự do dân chủ và tham gia việc hoạch định chủ trương chính sách của nhà nước. Xét theo tiêu chuẩn trung lưu nêu trong báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới là thu nhập đầu người hàng năm đạt 4.000~17.000 USD (GDP đầu người Trung Quốc năm 2010 là 4277 USD), năm 2008 tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc chiếm 22-23% tổng số dân hoặc 300 triệu người và tăng hàng năm 1%.

Cải cách mở cửa đã nâng cao đáng kể đời sống nhân dân cả nước, nhờ đó công dân có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao, du lịch,.., qua đó tự phát lập ra các tổ chức công dân, hội ngành nghề, câu lạc bộ v.v… Cũng do đời sống khá nên họ có điều kiện cung cấp tài chính cho các tổ chức đó hoạt động.

Đồng thời Trung Quốc đã thực hiện những thay đổi lớn về chính trị, chủ trương tách rời chính quyền với xã hội, xây dựng nhà nước pháp trị:

– Nhà nước ngày càng tôn trọng pháp chế, pháp trị, như cho dân chúng thực hiện quyền tự do lập hội và mít tinh biểu tình (đã ghi trong Hiến pháp nhưng trước đây không thi hành);

– Nhà nước dần dần tách khỏi xã hội, trước hết là xã hội kinh tế (tức khối doanh nghiệp);

– Trung ương phân chia bớt quyền lực cho địa phương; chính quyền nới lỏng quản lý công dân. Từ giữa thập niên 80 bắt đầu thực hiện nông thôn tự quản, nông dân trực tiếp bầu ra Ủy ban Thôn dân để giải quyết mọi công việc trong làng.

– Tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chức năng kinh tế, xã hội, tăng cường chức năng quản lý hành chính; chính quyền không còn quản lý sản xuất kinh doanh, các việc dân sự, văn hóa nghệ thuật, học thuật nữa, mà để các tổ chức dân gian (như các hội ngành nghề) tự quản lý.

Đã thực hiện thay đổi cách quản trị xã hội, như mở rộng dân chủ ở cơ sở, thực hiện công dân tự quản, chính trị trong suốt, xã hội giám sát chính quyền, công khai tài chính, tổ chức kiểm toán. Mở rộng dân chủ cơ sở là thành tích nổi bật nhất. Như đã mở rộng quyền trực tiếp bầu cử, ban hành Luật Bầu cử, quy định Hội đồng nhân dân (Quốc hội) từ cấp huyện trở xuống phải do cử tri trực tiếp bầu, không được đề cử ứng viên mà để dân tự chọn. Ban hành chế độ bầu cử trực tiếp Ủy ban Thôn dân tại mỗi làng xã, Ủy ban Dân phố tại mỗi khu phố ở thành thị, đều không được chỉ định sẵn ứng cử viên. Các Ủy ban này không phải là cơ quan chính quyền mà là tổ chức tự quản của dân. Việc thành lập Ủy ban Thôn dân và Ủy ban Dân phố, thực hiện công dân tự quản xã hội ở nông thôn và khu phố, là cải cách chính trị quan trọng nhất tại Trung Quốc kể từ thập niên 80, một bước tiến mạnh dạn tới thành lập XHCD ở nước này.

Tuy vậy nhiều cải cách dân chủ chỉ được thực hiện qua loa đại khái, hình thức; ban hành nhiều văn bản luật pháp nội dung tốt nhưng không chấp hành đúng. Chẳng hạn khi bầu cử vẫn chỉ bầu theo danh sách ứng cử viên đã chỉ định sẵn, hoặc không bầu trực tiếp mà chỉ để một số “đại biểu dân” bầu; nghĩa là bầu người đã được cấp trên lựa chọn; thực chất dân chưa được làm chủ.

Kinh tế thị trường đem lại sự phân hóa sâu sắc trong xã hội, đặc biệt là phân hóa giàu nghèo, làm tăng bất công xã hội và mâu thuẫn nội bộ. Xã hội chia làm các tầng lớp khác nhau về thu nhập, nguồn lực, địa vị, trình độ văn hóa. Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho biết hiện nay xã hội nước này hình thành 10 tầng lớp: cao nhất là tầng lớp cán bộ quản lý nhà nước và xã hội; thứ nhì là tầng lớp giám đốc doanh nghiệp quốc doanh; thứ ba là tầng lớp chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thứ 8, 9 là tầng lớp công nhân xí nghiệp, lao động nông nghiệp; thứ 10 là tầng lớp vô nghề nghiệp, thất nghiệp và nửa thất nghiệp. Ba tầng lớp trên cùng thuộc vào quần thể đặc quyền đặc lợi; ba tầng lớp dưới cùng thuộc quần thể yếu thế, đông người nhất, nghèo nhất và lợi ích của họ bị xâm phạm nhiều nhất. Các phần tử xấu trong mấy tầng lớp trên cùng thường móc nối với nhau chiếm đoạt lợi ích của các tầng lớp dưới cùng, vì thế đa số dân chúng ngày càng bất mãn, mâu thuẫn nội bộ nhân dân ngày càng gay gắt, xã hội có xu hướng mất ổn định.

Kinh tế thị trường đẻ ra lối sống chạy theo đồng tiền, tạo điều kiện phát triển nạn tham nhũng trong giới quan chức nhà nước và thói kinh doanh mù quáng trục lợi trong giới doanh nhân; họ thường dùng cách hối lộ để móc nối với các quan chức nhằm kiếm lợi nhuận tối đa, gây thiệt hại lợi ích của nhân dân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho đất đai – nguồn sống của nông dân, bị thu hẹp, thiệt hại trực tiếp tới lợi ích của họ, trong khi lại làm cho giới doanh nhân kinh doanh bất động sản giàu lên.

Tất cả những điều đó đã làm dân chúng thức tỉnh ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình. Họ đã đứng dậy chống lại giới quan chức tham nhũng và giới doanh nhân trục lợi. Số vụ biểu tình phản kháng tăng lên: năm 1994 có 10 nghìn vụ, năm 2003 – 60 nghìn; quy mô biểu tình lớn dần: năm 1994 có 1.400 vụ có từ 100 người trở lên tham gia, năm 2002 – hơn 7000. Công đoàn Trung Quốc cho biết: thời gian 1992-1997 hàng năm bình quân có 1,26 triệu công nhân tham gia các vụ tranh chấp với chủ lao động. Năm 1995 ở 30 đô thị có hơn 1 triệu người tham gia biểu tình phản đối bất công xã hội; năm 1998 có 3,6 triệu người.

Trong tiến trình cải cách mở cửa ngày càng có nhiều lực lượng xã hội tách ra khỏi sự kiểm soát của nhà nước, dẫn đến quá trình phân hóa cơ cấu xã hội Trung Quốc theo diễn biến như sau: trước tiên là phân hóa giữa nhà nước chính trị với xã hội kinh tế mà đột phá khẩu là sự tách rời chính quyền với khối doanh nghiệp. Thứ hai là từ thập niên 90 trở đi tầng lớp trung lưu dẫn đầu dân chúng lập ra các đoàn thể tự nguyện để bảo vệ lợi ích của mình và góp phần tham gia quản lý xã hội, gọi chung là Tổ chức xã hội (TCXH), hình thành một khu vực tương đối độc lập, bắt đầu quá trình tách rời nhà nước chính trị với xã hội của công dân, chế độ “Hợp nhất chính trị và xã hội” bị xóa bỏ hoàn toàn.

Các cải cách về kinh tế và chính trị nói trên đã tạo điều kiện thuận lợi để xu thế thành lập các TCXH phát triển rất mạnh. Đây là cơ sở hình thành XHCD ở Trung Quốc.

Năm 1989 số lượng các TCXH có tính toàn quốc tăng lên tới 1600 đơn vị, các TCXH có tính địa phương bằng hơn 200 nghìn. Năm 1997, có hơn 180 nghìn các TCXH cấp huyện trở lên. Đến năm 2010 cả nước đã có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và con số này đang tăng lên với tốc độ mỗi năm 8-10%.

Như vậy bình quân 400 người có một tổ chức của công dân (ở Mỹ là 300 người). Điều đó nói lên XHCD Trung Quốc hình thành và phát triển nhanh mạnh tới mức đáng ngạc nhiên.

Cơ cấu tổng thể xã hội Trung Quốc đã phân hóa thành 3 khu vực độc lập tương đối với nhau: – Khu vực nhà nước với đại diện là quan chức chính quyền, cơ sở là tổ chức chính quyền; – Khu vực thị trường với đại diện là các chủ doanh nghiệp, cơ sở là tổ chức doanh nghiệp; – Khu vực các tổ chức xã hội của công dân, tức khu vực xã hội công dân (còn gọi là khu vực thứ ba) với đại diện là công dân, cơ sở là mấy triệu tổ chức xã hội nói trên.

Mới đây tiến sĩ Du Khả Bình Phó Cục trưởng Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ (Central Compilation & Translation Bureau) nhận xét: việc nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc đang ngày một đi vào chiều sâu cho thấy không những XHCD đã trở thành một lực lượng lớn mạnh mà việc nghiên cứu XHCD cũng đã thành phong trào, thành sức mạnh. Điều đó nói lên chân lý: bất cứ sự vật nào hợp quy luật phát triển xã hội và yêu cầu tiến bộ xã hội thì sẽ không thể nào ngăn cản được.

Giới học giả Trung Quốc cho rằng từ đầu thế kỷ XXI nước này đã hình thành xã hội công dân – thành quả vĩ đại của tiến trình cải cách mở cửa.

Đầu năm 2009, một tờ báo CHLB Đức đăng bài Trung Quốc đã tiến sang xã hội công dân. Tác giả cho rằng đó là do: – Tăng trưởng kinh tế và cải cách mở cửa tại Trung Quốc đã dẫn đến các thay đổi lớn về mặt xã hội; – Tầng lớp trung lưu đã chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, họ tự hào vì có căn hộ, xe hơi, có đầu tư chứng khoán và có phong cách sống gần như dân đô thị Âu Mỹ; – Dân chúng đô thị Trung Quốc đã quan tâm tới các tầng lớp không có đặc quyền (như nông dân, dân công, người thất nghiệp), tới vấn đề môi trường và tham nhũng, họ bắt đầu bàn thảo về luật pháp, đòi có quyền phát ngôn, phản biện về các chính sách của nhà nước; dân chúng đã lập ra các tổ chức phi chính phủ và hội đoàn giúp lẫn nhau. – Mạng Internet và các công cụ thông tin hiện đại thúc đẩy dân chúng hăng hái bàn bạc mọi vấn đề, qua đó ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền.

XHCD Trung Quốc có các đặc trưng tổng quát là: – Tương đối độc lập với nhà nước và chính quyền; – Có chủ thể là các tổ chức dân lập phi chính phủ và phi lợi nhuận; – Là sản phẩm tất nhiên của kinh tế thị trường và yêu cầu tất nhiên của nền chính trị dân chủ; – Có quy luật vận hành khác với hệ thống chính quyền và hệ thống thị trường (hệ thống kinh tế); – Có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế thị trường và chính trị dân chủ.

Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và khoa học kỹ thuật, trong đó có công nghệ thông tin, công nghệ mạng Internet đã tăng tốc quá trình hình thành và phát triển XHCD. Trung Quốc năm 2011 có 513 triệu dân mạng (135 triệu ở nông thôn) và 850 triệu hộ dùng điện thoại di động, hơn 250 triệu người dùng microblog (weibo) để phát biểu quan điểm của mình, tố cáo tham nhũng, bất công và nạn chính quyền giấu thông tin, qua đó đóng góp rất quan trọng hình thành XHCD. Như trong vụ tai nạn đường sắt cao tốc ở Ôn Châu (23/7/2011), họ đã vạch ra cách xử lý sai lầm của ngành đường sắt, qua đó giúp chính phủ giải quyết vụ này một cách hợp tình hợp lý, tìm ra và khắc phục được nhiều sai sót trong quản lý nhà nước.

Công dân và các TCXH của họ đã góp phần quan trọng đấu tranh gìn giữ quyền lợi của mình, tham gia quản lý xã hội, giám sát cán bộ và cơ quan nhà nước.

Đặc biệt nông dân Trung Quốc đã tiến hành đấu tranh quyết liệt đòi quyền làm chủ xã hội, đòi giữ lại đất nông nghiệp. Họ đấu tranh với chính quyền địa phương theo nhiều cách, từ biểu tình ngồi ở trước trụ sở cơ quan chính quyền tới diễu hành trên đường phố hoặc kéo lên ngồi kín đường cao tốc, đường xe lửa. Tuy chính phủ đã có quy định cấm dùng vũ lực đàn áp dân biểu tình nhưng chính quyền một số nơi vẫn dùng cảnh sát để đối phó, gây xung đột bạo lực với người biểu tình.

Điển hình nhất là vụ 11000 nông dân xã Ô Khảm (Quảng Đông) đấu tranh chống bầu cử dân chủ giả hiệu, chống tham nhũng, chống bán đất của dân, bắt đầu từ vụ biểu tình ngày 21/9/2011 tố cáo chính quyền địa phương bán mảnh đất tập thể cuối cùng của xã. Đấu tranh diễn biến phức tạp, tới mức dân biểu tình đánh lại cảnh sát đàn áp, gây thương vong cả hai bên; tiếp đó dân làng đuổi hết cán bộ và cảnh sát; đối lại, chính quyền phong tỏa làng, cắt lương thực, điện nước và thông tin liên lạc. Ngày 20/12 chính quyền tỉnh Quảng Đông đã nhượng bộ, cử Tổ Công tác do Ủy viên Ban Kỷ luật Trung ương Đảng kiêm Phó Bí thư Tỉnh ủy dẫn đầu xuống xã gặp dân trao đổi ý kiến và tuyên bố: “Các khiếu nại chủ yếu của quần chúng là hợp lý”, “Một số hành vi quá khích của đa số quần chúng là có thể thông cảm và tha thứ được, Đảng và chính phủ không truy cứu trách nhiệm của họ” và cách chức cán bộ lãnh đạo chi bộ và Ủy ban Thôn dân (một tổ chức tự quản của nông dân Trung Quốc đã được Hiến pháp 1982 xác nhận và có Luật thực hiện từ năm 1988) hiện có, đồng ý để dân bầu lại Ủy ban Thôn dân theo cách toàn dân xã trực tiếp bỏ phiếu kín, không có đề cử ứng cử viên kiểu Đảng cử dân bầu như trước kia. Kết quả một người lãnh đạo cuộc biểu tình được bầu làm chủ nhiệm Ủy ban; từ đó cuộc đấu tranh chấm dứt. Cuộc bầu cử này đã chứng minh chỉ cải cách kinh tế thôi thì không thể giảm được mâu thuẫn xã hội mà dứt khoát còn phải cải cách chính trị, thực sự để dân làm chủ.

Ngày 19/2/2012, Trung tâm Nghiên cứu Xã hội công dân trường Đại học Bắc Kinh công bố kết quả bình chọn 10 sự kiện xã hội công dân lớn năm 2011 của Trung Quốc, trong đó vụ Ô Khảm được xếp hạng thứ nhất với số phiếu 100%.

Tiến trình xây dựng XHCD ở Trung Quốc khá phức tạp. Đó là do: – Lĩnh vực tư nhân và bảo đảm quyền tư nhân chưa phát triển, thiếu bảo đảm pháp lý; – Các TCXH vẫn chịu sự chỉ đạo của nhà nước; chính quyền vẫn còn nghi kị các tổ chức này; – Chưa hình thành môi trường xã hội cho các TCXH tham gia và bàn bạc công việc chung.

2. Thay đổi nhận thức về xã hội công dân

Tuy từ thập niên 80 các hình thái manh nha của XHCD đã hình thành và lớn mạnh dần nhưng thuật ngữ Xã hội công dân vẫn bị coi là rất nhạy cảm; quan chức Đảng và chính quyền, kể cả đa số học giả Trung Quốc còn chưa hiểu rõ và có thái độ hoài nghi về XHCD (tương tự tình hình ở Việt Nam hiện nay).

Vụ động đất lớn ở Tứ Xuyên (12/5/2008) đánh dấu sự thay đổi rõ rệt về thái độ đối với XHCD. Khi ấy dân chúng và các TCXH của họ bắt đầu tự động làm những việc do trách nhiệm công dân thôi thúc (chứ không chờ lãnh đạo chỉ thị rồi mới làm như trước kia), họ hăng hái tham gia cứu chữa và quyên góp cứu tế với quy mô lớn. Đồng thời họ đòi quyền được thông tin chính xác tình hình, quyền được tham gia và giám sát công tác cứu chữa, cứu tế. Tuy vậy vẫn chưa hình thành một XHCD chín muồi. Phần lớn các TCXH chưa biết cần làm gì để cứu giúp đồng bào bị nạn và khi tiến hành cứu giúp thì lại làm việc không chuyên nghiệp. Nhà nước vẫn nghi ngờ và hạn chế hoạt động của các tổ chức này, như quy định mọi nguồn quyên góp phải đưa vào kênh do nhà nước chỉ định; xe chở đồ cứu tế đều bị khám xét kỹ, có giấy phép mới được vào vùng tai nạn.

Sau vụ này, Chính phủ Trung Quốc nhanh chóng nhận thấy tác dụng to lớn của XHCD và đưa ra quan điểm “Nhà nước khuyến khích công dân, pháp nhân và các tổ chức khác tích cực tham gia công tác khôi phục tái thiết sau tai nạn động đất”. XHCD trở thành đề tài thảo luận rất rộng rãi, không còn bị kiêng kị nữa.

Nhận thức của ĐCSTQ về XHCD đã trải qua một quá trình từ phủ định tới khẳng định. Như chính ĐCSTQ thường nói, có nhiều sự vật nảy sinh không tùy thuộc vào ý chí của con người, mà XHCD là một thí dụ.

Trên thực tế một XHCD tương đối độc lập đã xuất hiện và trưởng thành không thể nào ngăn cản, đồng thời nó có ảnh hưởng ngày một quan trọng đối với tình hình chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc. Từ thập niên 90 giới học thuật Trung Quốc triển khai mạnh mẽ đợt thảo luận về XHCD, kết quả là tính hợp pháp của XHCD (hoặc xã hội thị dân, theo cách gọi hồi ấy) được xã hội thừa nhận.

Hiện tượng đó về khách quan đã yêu cầu ban lãnh đạo Trung Quốc phải thừa nhận tính hợp pháp và tác dụng của XHCD, đồng thời có các biện pháp tích cực để dẫn dắt XHCD trưởng thành một cách lành mạnh.

Sau thập niên 80, Chính phủ Trung Quốc đã đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự quản tại các cơ sở, chủ yếu trên 3 lĩnh vực: nông dân tự quản tại nông thôn, dân phố tự quản khu phố ở đô thị và tự quản ngành nghề. Ủy ban Thôn dân, Ủy ban Dân phố và các Hội ngành nghề là 3 loại TCXH của công dân thực hiện việc tự quản đó.

Hiến pháp và luật pháp quy định các Ủy ban thôn dân và Ủy ban dân phố không phải là một cấp cơ quan chính quyền mà là tổ chức dân gian (tức TCXH) và tổ chức tự quản.

Tháng 6/1998, Bộ Dân chính chính thức đổi tên Nha quản lý đoàn thể xã hội thành Cục quản lý các tổ chức dân gian. Tháng 10/2008, Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý đăng ký các đoàn thể xã hội, trên cơ sở điều lệ cũ được sửa đổi lớn; đồng thời lần đầu công bố Điều lệ quản lý các đơn vị phi doanh nghiệp dân lập. Hai văn bản pháp lý này đã thay đổi cơ chế quản lý hành chính các TCXH của công dân (tức tổ chức dân gian) trước đây thành cơ chế lãnh đạo hai nấc là ngành Dân chính và đảng phụ trách, trong đó cơ quan Dân chính chịu trách nhiệm tổ chức đăng ký, cơ quan đảng chịu trách nhiệm quản lý.

Sự tồn tại hàng triệu tổ chức xã hội của công dân đã ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị – kinh tế ở Trung Quốc và trên mức độ nhất định đã làm thay đổi tình hình quản trị xã hội, nâng cao đáng kể sự tham gia chính trị của công dân, nâng cao mức độ liêm khiết và hiệu suất làm việc của các cơ quan đảng, chính quyền.

3. Hoạt động và vai trò tác dụng của các tổ chức xã hội

Trong cơ chế hai tầng quản lý, hầu hết các tổ chức xã hội (TCXH) của công dân đều vừa phục tùng sự lãnh đạo của đảng và chính quyền lại vừa giữ tính độc lập tự chủ của mình, ngoài ra, nhằm tăng cường quyền lợi của mình, họ còn cố gắng ảnh hưởng tới chính sách của đảng và chính phủ.

Thí dụ các tổ chức dân cư địa phương thường sử dụng các biện pháp kéo dân chúng lên gặp cấp trên phản ảnh tình hình, tố cáo, khiếu nại, thỉnh nguyện, thậm chí biểu tình ngồi hoặc mít tinh tuần hành, bao vây cơ quan đảng, chính phủ, đòi hỏi giải quyết các yêu cầu thiết thân của họ. Tình hình này thường xảy ra khi địa phương có việc cưỡng chế dỡ nhà giao đất, hoặc khi trật tự trị an kém, môi trường bị phá hoại.

Ngày càng có nhiều TCXH, nhất là tổ chức có thành viên là giới trí thức, muốn tham gia quá trình quyết sách của đảng và nhà nước. Hình thức chủ yếu họ sử dụng là tiến hành phản biện, góp ý phê phán, đề nghị cải tiến hoàn thiện các chủ trương chính sách của nhà nước. Thí dụ năm 2000, Viện Nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc, tổ chức Những người bạn của thiên nhiên, Nhà sách Tam Vị đã công bố nhiều kiến nghị xây dựng về các vấn đề chính trị, kinh tế, ngoại giao, môi trường và đã có ảnh hưởng lớn trong xã hội.

XHCD Trung Quốc đã góp phần thực sự vào việc xây dựng Đảng CSTQ trong sạch, xứng đáng với danh hiệu đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Trung Hoa. XHCD xuất hiện đã làm cho ĐCSTQ từ một đảng chỉ lãnh đạo đường lối chiến lược, chuyển sang đóng vai trò một đảng cầm quyền. Tổng Bí thư Đảng đồng thời là Chủ tịch nhà nước, trực tiếp chịu trách nhiệm đối nội đối ngoại của quốc gia. Cùng với sự phát triển XHCD, ý thức dân chủ, ý thức phục vụ nhân dân, ý thức làm cầu nối của xã hội, ý thức nguy cơ và ý thức pháp trị của ĐCSTQ cũng được tăng cường không ngừng. Chẳng hạn, ý thức nguy cơ của Đảng sẽ được tăng cường bởi lẽ sự phản biện và giám sát của các TCXH đối với hoạt động của Đảng sẽ làm cho Đảng thấy được nguy cơ có thể tự đánh mất quyền lãnh đạo nếu Đảng không giữ được tính tiên phong và tỏ ra có năng lực tổ chức tốt mọi công việc của nhà nước. Như vậy sự phát triển XHCD sẽ giúp ĐCSTQ xây dựng được ý thức cầm quyền; ngược lại việc đó cũng có lợi cho sự phát triển XHCD.

Bản thân các TCXH, nhất là các tổ chức có tính độc lập tự chủ cao, cũng tỏ ra có những ưu điểm trội hơn các tổ chức của nhà nước về mặt tổ chức quản lý nội bộ và hiệu quả công tác. Điều đó đã làm cho vai trò tác dụng của các TCXH ngày càng được nâng cao. Thí dụ các hội người cao tuổi, các tổ chức dân cư (thôn dân, dân phố) lại làm được nhiều việc hơn các tổ chức đoàn thể quần chúng nặng màu sắc nhà nước như Đoàn Thanh niên cộng sản, Hội Phụ nữ. Quỹ Thanh Thiếu niên Trung Quốc là một sản phẩm của Đoàn Thanh niên cộng sản lại đạt được mức độ nhất trí nội bộ cao hơn Đoàn, hoạt động quyên góp từ thiện có kết quả cao hơn, và hăng hái phản biện các chủ trương chính sách của nhà nước, trong khi Đoàn TNCS không làm được chức năng này.

Xét về mặt công khai trong suốt hoạt động nội bộ, các TCXH của công dân cũng làm tốt hơn các tổ chức nhà nước. Thí dụ các Ủy ban Thôn dân ở nông thôn, Ủy ban dân phố ở thành thị đã thực hành rộng rãi công khai hóa mọi hoạt động và chi tiêu tài chính của mình, có mức độ trong suốt chính trị cao hơn hẳn các tổ chức chính quyền cơ sở. Tại Thượng Hải, cán bộ Ủy ban dân phố đi làm đều phải đeo biển chức danh; mọi công tác, thời hạn hoàn thành, chương trình làm việc, tên người phụ trách… đều phải viết thành biểu bảng treo trên tường cho dân biết Tại thôn Đông Thăng tỉnh Phúc Kiến, Ủy ban thôn dân công khai toàn bộ các nội dung: tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp của cán bộ thôn; tình hình thu chi tài chính, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, tình hình nhận thầu đất đai ao hồ vườn cây, xí nghiệp; tình hình gọi thầu các dự án xây dựng; phân phối nhà đất; trưng dụng đất đai và bồi thường v.v…Công khai hóa được thực hiện bằng hai hình thức: viết thành biểu bảng treo trên tường và đọc trên hệ thống truyền thanh xóm. Ngoài ra còn đặt một số hòm thư bên lề đường để dân phản ảnh ý kiến.

Hoạt động công khai hóa nói trên đưa lại kết quả là cán bộ phụ trách các TCXH có tính độc lập tự chủ cao thường trong sạch liêm khiết hơn hẳn cán bộ chính quyền, qua đó có tác dụng đẩy mạnh giám sát chính quyền và phòng chống tham nhũng trong cán bộ chính quyền địa phương.

Hoạt động quản trị nội bộ của các TCXH còn có ưu điểm là mức độ dân chủ hóa cao. Toàn bộ cán bộ lãnh đạo các tổ chức này đều được bầu lên chứ không chỉ định. Các chủ trương chính sách đều được trưng cầu ý kiến dân trước rồi mới quyết định. Ngoài ra đều áp dụng cơ chế giám sát nội bộ khá nghiêm ngặt.

Những mặt trội nói trên thể hiện sự quản trị hoàn hảo của các TCXH đã có ảnh hưởng lớn tới đời sống chính trị của toàn xã hội Trung Quốc, thể hiện trên các mặt tạo dư luận đồng thuận để nhân dân tham gia quá trình quyết sách, tự quản lý xã hội, đòi chính quyền công khai hóa các hoạt động, phòng chống tham nhũng v.v…

Sự ra đời rất nhiều tổ chức dân gian đã hình thành XHCD ở Trung Quốc, đây là cầu nối quan trọng giữa chính quyền với công dân. Xã hội chỉ được quản trị hoàn hảo khi chính quyền và dân hợp tác tốt với nhau, nhưng sự hợp tác đó không phải bao giờ cũng là hợp tác trực tiếp mà phải thông qua sự điều phối của một tổ chức trung gian, đó là các tổ chức dân gian (còn gọi là tổ chức xã hội TCXH). Các TCXH này kịp thời tập trung mọi yêu cầu, nguyện vọng, đề nghị và ý kiến phê bình của dân chúng và chuyển tới cơ quan chính quyền. Thực tế cho thấy các TCXH này đã thực hiện được sự tham gia chính trị ở mức độ cao hơn nhiều so với sự tham gia của các cá thể công dân, nhất là ở tầng nấc cơ sở tại nông thôn và thành thị.

Các TCXH trở thành nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết sách của chính quyền và là động lực to lớn đẩy mạnh quá trình cải cách chính trị. Ngày một nhiều TCXH, nhất là các hội đoàn nghiên cứu học thuật có tính chuyên ngành, đảm nhiệm vai trò tư vấn tham mưu cho chính quyền khi nghiên cứu hoạch định các chủ trương chính sách, góp phần xúc tiến dân chủ hóa quyết sách.

Các TCXH ở Trung Quốc thường dùng những cách sau đây để tham gia quá trình quyết sách của chính quyền:

1- Phản ánh vấn đề, nêu kiến nghị, yêu cầu nhằm đưa ra các chủ trương chính sách thích hợp; 2- Tiến hành phản biện góp ý kiến đối với việc hoạch định và thực thi quyết sách; 3- Khi chủ trương chính sách của chính quyền gây thiệt hại cho lợi ích của thành viên TCXH, các tổ chức này đứng ra giao thiệp với ban ngành liên quan của chính quyền để giải quyết.

Nhìn chung các TCXH của công dân đã góp phần quan trọng xúc tiến nâng cao độ trong suốt chính trị của xã hội Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, công dân muốn nắm được thông tin về hoạt động của chính quyền thì chỉ có thể thông qua TCXH sở tại để gây sức ép đòi chính quyền cung cấp tin; cá thể công dân không đủ sức gây được sự chú ý của chính quyền. Ngoài ra các TCXH (như các hội nghiên cứu, tư vấn, hội học thuật) thường tổ chức hội họp thường kỳ, là những dịp quan trọng để cung cấp thông tin cho công dân. Một số TCXH còn lập cơ quan truyền thông của mình, như ra báo, tạp chí, báo điện tử, lập trang mạng để truyền bá các thông tin. Các hiệu sách tư nhân cũng có ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng kênh thông tin, thay đổi cơ chế quản lý truyền phát thông tin.

Trên lĩnh vực công việc công ích, các TCXH của công dân đã phát huy tác dụng không thể thay thế. Thí dụ trong công tác từ thiện, xóa đói giảm nghèo, giúp người già yếu tàn tật v.v…các TCXH như Tổng hội Từ thiện Trung Hoa, Quỹ Tống Khánh Linh, … đã có tác dụng rất lớn. Việc làm của các TCXH đã cải thiện hình ảnh của xã hội Trung Quốc, xúc tiến sự hòa hợp giữa dân với chính quyền. Thí dụ “Dự án Hy vọng” do Quỹ Thanh thiếu niên Trung Quốc tổ chức thực hiện, Quỹ này đã tổ chức quyên góp được nguồn kinh phí lớn, giúp hàng triệu trẻ em nghèo được đi học. Quỹ này sinh ra từ hệ thống Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc, nhưng Đoàn không làm được việc này.

Hệ thống các TCXH của công dân trở thành lực lượng có tác dụng chế ước chính quyền. Về nguyên tắc, quyền lực và hoạt động của bất cứ chính quyền nào cũng phải được chế ước. Trước cải cách mở cửa việc này là do nội bộ chính quyền tự thực thi. Sau khi hàng loạt TCXH của công dân ra đời, chính quyền bắt đầu chịu sự giám sát và chế ước từ bên ngoài. Một số TCXH khi phát hiện thấy các bất hợp lý trong chủ trương chính sách đã tiến hành hoạt động ngăn cản một cách có tổ chức. Trong nhiều trường hợp trước sức ép của các TCXH này, chính quyền đã sửa đổi chủ trương chính sách. Nơi nào các TCXH lớn mạnh thì chính quyền càng chịu sức ép lớn, hiện tượng cán bộ nhà nước tham nhũng và làm bậy giảm rõ rệt.

Thực tế cho thấy tầng lớp nông dân đấu tranh hăng hái nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của họ (nhất là quyền giữ đất), chống tham nhũng và suy thoái trong giới quan chức địa phương. Các cuộc đấu tranh của họ nặng về tự phát và thiếu lý trí, dễ dẫn đến tình trạng dùng bạo lực. Đó là do nông dân còn chưa thành lập được nhiều TCXH của mình. Cũng cùng với mục tiêu như vậy nhưng tầng lớp trung lưu ở thành thị đấu tranh văn minh, ôn hòa hơn; đó là do họ có nhiều TCXH của mình hướng dẫn, tổ chức.

4. Quy mô của các tổ chức xã hội công dân Trung Quốc

Tính đến năm 2003 đã có 8.031.344 tổ chức xã hội của công dân được thành lập. Trong đó đã đăng ký 266.000, chưa đăng ký – 290.000 tổ chức; các đoàn thể do nhà nước lập ra như công đoàn, đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ có 5.378.424 tổ chức cơ sở; Hội người tàn tật, Hội Sinh đẻ có kế hoạch, Hội Liên hiệp văn nghệ có 1.338.220 tổ chức cơ sở; ngoài ra còn 758.700 các đoàn thể học sinh, văn nghệ giải trí thể thao v.v….

Một nguồn số liệu khác cho biết năm 2010 Trung Quốc có 450 nghìn TCXH đăng ký hoạt động và 250 nghìn TCXH chuẩn bị đăng ký; nếu kể cả các tổ chức chưa đăng ký thì trên thực tế hiện có khoảng 3 triệu TCXH và tăng với tốc độ mỗi năm 8-10%.

Sở dĩ các số liệu khác nhau vì mấy lý do: – Tiêu chuẩn xét TCXH không thống nhất, thí dụ có người nói các đoàn thể quần chúng do nhà nước lập ra (gần 5.4 triệu tổ chức cơ sở) không phải là TCXH; – Rất khó thống kê vì nhiều tổ chức không đăng ký.

Các TCXH này có mặt trong hầu như mọi hoạt động công ích và môi giới, dịch vụ xã hội: văn hóa, y tế vệ sinh, lao động, thể thao, bảo vệ môi trường, pháp lý, từ thiện v.v..,, sơ bộ hình thành một hệ thống. Riêng hơn 60 nghìn hội ngành nghề đã có hơn 20 triệu hội viên; hơn 40 nghìn hội học thuật tập họp hơn 5 triệu học giả; các hội chuyên ngành liên kết hơn 10 triệu thành viên. Sức mạnh kinh tế của các TCXH tăng đáng kể: tính tới cuối năm 2010 các tổ chức này có vốn cố định gần 109 tỷ RMB (Nhân dân tệ; 1 USD tương đương 7 RMB)), thu nhập hàng năm khoảng 124,7 tỷ RMB; thực ra những con số này rất nhỏ so với thực tế.

Gần đây các TCXH Trung Quốc bắt đầu quốc tế hóa; hiện nay các TCXH có tính toàn quốc của Trung Quốc đã đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo trong 122 tổ chức quốc tế, chức vụ ủy viên chấp hành trong 92 tổ chức quốc tế. Đây là một phát triển đáng chú ý của XHCD Trung Quốc.

Các TCXH đang phát huy tác dụng ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa.

Các tổ chức này tích cực tham gia mọi hoạt động kinh tế, thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế. Bản thân họ tạo ra việc làm: trong các TCXH hiện có 5,4 triệu nhân viên chuyên trách, hơn 5 triệu nhân viên kiêm chức và hơn 25 triệu tình nguyện viên có đăng ký.

Về chính trị, các TCXH là kênh quan trọng để công dân tham gia quản lý xã hội, là cầu nối chính quyền với công dân, giúp tăng cường sự tín nhiệm giữa quan chức nhà nước với dân. Các TCXH đang tích cực tác động, xúc tiến sự khoa học hóa và dân chủ hóa quá trình quyết sách của các cấp chính quyền. Gần đây nhiều TCXH cấp địa phương bắt đầu gánh vác một phần dịch vụ công cộng của chính quyền sở tại, góp phần nâng chất lượng các dịch vụ này.

Các TCXH thường xuyên đảm nhiệm công tác xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện. Do họ chủ động tích cực cứu trợ vụ tai nạn động đất Tứ Xuyên, các cấp chính quyền đã đánh giá tốt về họ và bắt đầu thực sự hợp tác với họ.

Về văn hóa, các TCXH có nhiều đóng góp về mặt xây dựng lối sống mới trật tự, vệ sinh, có văn hóa, đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao ở địa phương.

So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.

5. Đặc điểm của xã hội công dân Trung Quốc

1. Do chính quyền chủ đạo: vì hầu hết các TCXH là do nhà nước lập ra và chỉ đạo, nhất là các TCXH đã đăng ký hợp pháp và có ảnh hưởng lớn như các tổ chức ngành nghề, đồng nghiệp, đoàn thể nghiên cứu, đoàn thể lợi ích. Tuy đảng và nhà nước cố gắng tăng cường tính tự chủ của các TCXH, quy định cán bộ lãnh đạo đảng và nhà nước không được nhận chức vụ lãnh đạo các tổ chức này nhưng trên thực tế các TCXH quan trọng đều tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng, chính phủ.

Đó là do: – Điều lệ đăng ký và quản lý TCXH quy định các tổ chức này phải dựa vào một ngành chủ quản là một cơ quan đảng/nhà nước; – Hầu hết các TCXH có ảnh hưởng lớn đều do nhà nước lập ta, cho dù cuối cùng họ dần dần tách ra khỏi cơ quan sáng lập nhưng hai bên vẫn có quan hệ khăng khít; bên sáng lập vẫn là ngành chủ quản của TCXH đó; – Tuy chính phủ đã có quy định các TCXH về nguyên tắc phải tự lo kinh phí hoạt động, nhưng thực tế một số TCXH quan trọng vẫn được nhà nước cấp kinh phí, tức về tài chính vẫn ỷ lại nhà nước.

2. Môi trường cơ chế của Trung Quốc về vĩ mô tuy khuyến khích XHCD nhưng về vi mô thì chủ yếu vẫn hạn chế sự phát triển của XHCD. Việc đăng ký hoạt động và quản lý các TCXH còn rắc rối, thí dụ TCXH phải tiếp nhận sự quản lý của hai cơ quan chính quyền ngang cấp là cơ quan của Bộ Dân Chính và cơ quan quản lý cùng ngành.

3. So với phương Tây, các TCXH của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.

4. Sự phát triển các TCXH còn chưa quy chế hóa tuy là năm 1998 Bộ Dân Chính đã ban hành Điều lệ mới về quản lý các tổ chức này.

Cụ thể: – Các TCXH quan trọng đã hành chính hóa cao độ như Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ trên thực tế không khác gì các cơ quan hành chính nhà nước, họ trực tiếp chịu sự lãnh đạo của cơ quan đảng và chính quyền các cấp, không phải đăng ký với Bộ Dân Chính. – Các TCXH đã tương đối hành chính hóa như các hội quản lý ngành nghề (Hội Công thương, Hội người tiêu dùng …) có biên chế nhất định, được coi là một cấp hành chính nhất định, người phụ trách do các cấp đảng và nhà nước cử. – Các TCXH về cơ bản là dân gian hóa, như các hội học thuật, hội nghiên cứu thì phần lớn chưa có biên chế chuyên trách, người lãnh đạo do họ tự bầu lên rồi trình cơ quan chủ quản duyệt, không được hưởng chế độ cấp bậc hành chính. – Các đơn vị dân lập phi doanh nghiệp là những TCXH rất đặc biệt, không có cấp bậc hành chính, trình độ hành chính hóa rất thấp, ngoài nghiên cứu chuyên môn và trao đổi ra còn làm một số dịch vụ chuyên ngành, như Viện Quản lý nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu phát triển Trung Quốc, Viện nghiên cứu văn hóa Trung Quốc.

5. Sự phát triển của các TCXH rất không cân đối, địa vị và ảnh hưởng trong đời sống kinh tế chính trị rất khác nhau, chủ yếu do khác nhau về nguồn lực, về cơ sở văn hóa, về thực lực kinh tế, về uy tín của người lãnh đạo.

6. Phương hướng phát triển xã hội công dân ở Trung Quốc hiện nay

Nhìn chung thái độ của xã hội Trung Quốc đối với các TCXH đã từ chỗ phủ nhận và nghi ngờ tiến tới khẳng định và ủng hộ. Tuy vậy vẫn còn không ít ý kiến lệch lạc. Điển hình nhất là quan điểm cho rằng các TCXH là đối thủ tự nhiên của chính quyền, vì thế một số cán bộ chính quyền có thái độ thiếu hợp tác với các tổ chức này. Nhà nước cũng chưa ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy về hoạt động của các TCXH, do đó gây khó khăn cho họ..

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng CSTQ lần thứ XVII đề xuất: Phát huy tác dụng tích cực của các TCXH trên mặt mở rộng sự tham gia của quần chúng, phản ánh các khiếu nại của quần chúng, tăng cường chức năng tự trị xã hội. Sau đại hội, mối quan hệ giữa Đảng và chính phủ với các TCXH dần dần chuyển biến từ kiểm soát sang giúp các TCXH đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Đề cương Kế hoạch 5 năm lần thứ XII lần đầu tiên chính thức nêu ra yêu cầu phải “tăng cường xây dựng các TCXH” – đây là một chuyển biến thực sự, quan trọng. Chính quyền các cấp bắt đầu tăng tài trợ cho các TCXH và giao cho họ bao thầu một số dịch vụ xã hội. Các nguồn tài trợ từ dân gian cho các TCXH cũng tăng dần. Tuy vậy nhìn chung nguồn lực của các tổ chức này hãy còn yếu và thiếu nhiều.

Phương hướng phát triển XHCD ở Trung Quốc hiện nay là tiếp tục xúc tiến toàn xã hội, nhất là quan chức đảng và nhà nước các cấp, nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược của XHCD, qua đó có thái độ khuyến khích và hợp tác với các TCXH. Cần hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan, một mặt quản lý các TCXH theo luật, một mặt tăng tốc nới lỏng sự kiểm soát các tổ chức đó, tăng cường giúp họ đào tạo cán bộ và khuyến khích họ hoạt động. Chính quyền các cấp cần tích cực thu hút các TCXH tham gia việc hoạch định chính sách công, phát huy tác dụng của họ trong quản lý xã hội, cố gắng thực hiện nhà nước và nhân dân cùng quản lý xã hội.

Có thể khẳng định công dân tích cực tham gia sinh hoạt chính trị là con đường cơ bản thực hiện dân chủ; không ngừng mở rộng sự tham gia chính trị một cách có trật tự của công dân là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Sự tham gia chính trị tốt nhất không phải là tham gia một cách tự phát, rời rạc mà là tham gia có tổ chức, thông qua các TCXH. Như vậy đỡ gây rắc rối và tốn kém cho chính quyền, đồng thời thể hiện được nguyện vọng của dân và cáng tăng được nhiệt tình tham gia của dân. Một XHCD kiện toàn là nền tảng của chính trị dân chủ, là hậu thuẫn vững chắc cho quyền dân chủ của dân.

Phát triển XHCD nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện sự cai trị hoàn hảo (good government) mà người Trung Quốc cổ đại gọi là Thiện chính hoặc Nhân chính; đại để gồm mấy yếu tố: luật pháp nghiêm minh, quan chức thanh liêm, hiệu suất hành chính cao, dịch vụ hành chính tốt.

Trung Quốc hiện đang tích cực xây dựng xã hội hài hòa. Mâu thuẫn lợi ích là trở ngại lớn nhất của việc xây dựng xã hội hài hòa. Phát triển XHCD chính là biện pháp thúc đẩy xây dựng xã hội hài hòa, trong đó các TCXH có tác dụng quan trọng; không có XHCD lành mạnh thì không thể có một xã hội thực sự hài hòa.

Phát triển XHCD còn góp phần nâng cao năng lực cầm quyền của ĐCSTQ, trong đó có việc nâng cao hiệu suất công tác quản lý; muốn vậy cách hữu hiệu nhất là giao nhiều công việc xã hội cho các TCXH quản lý.

7. Hoạt động nghiên cứu xã hội công dân ở Trung Quốc

Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu XHCD từ thập niên 80, khi khởi sự tiến trình cải cách mở cửa. Mới đầu chỉ có các nghiên cứu cá nhân với điểm xuất phát thấp; từ đầu thập niên 90 lần lượt xuất hiện các tổ chức chuyên nghiên cứu về XHCD, như Trung tâm XHCD ở một số trường đại học, xuất bản các tạp chí, lập các website về đề tài này.

Năm 1986 khi Trung ương ĐCSTQ xuất bản sách Hướng dẫn việc Xây dựng Nền Văn minh Tinh thần, trong đó nhấn mạnh việc “phát huy ý thức công dân xã hội chủ nghĩa,” giới học giả thấy đây là một cơ hội tốt để bắt đầu công khai thảo luận về khái niệm XHCD hồi ấy ai cũng cho là một vấn đề “nhạy cảm” tránh nói tới. Lấy ý tưởng từ đề tài “Ý thức công dân”, tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân đặt vấn đề xét lại cách dịch từ tiếng Đức burgerliche Gesellschaft trong tác phẩm Tháng 18 sương mù của Karl Marx. Từ này trước đây vẫn được dịch là xã hội tư sản, nay một học giả đề nghị dịch là xã hội thị dân. Nhiều người tham gia phát biểu ý kiến, nổ ra cuộc tranh luận về thị dân, công dân và xã hội công dân.

Giới học giả bình luận: trước cải cách mở cửa, Trung Quốc thực hành cơ chế chính trị đơn nguyên hóa cao độ, “chính (quyền) xã (hội) hợp nhất”, hầu như công và tư, nhà nước và xã hội, chính quyền và dân hoàn toàn hợp nhất làm một; công nhấn chìm tư, nhà nước nhấn chìm xã hội, chính quyền nhấn chìm dân. Trong một xã hội toàn trị như vậy nhiều người hiểu xã hội thị dân nói trong tác phẩm của Marx là xã hội tư sản, “xã hội công dân” hoặc “xã hội dân gian” là thứ đối lập với chính quyền, Trung Quốc không thể cho phép tồn tại.

Sáng kiến của tạp chí Khoa học xã hội Thiên Tân làm cho khái niệm XHCD được đưa ra bàn thảo công khai mà không còn bị coi là vấn đề “nhạy cảm, cấm kỵ” nữa.

Tác phẩm đầu tiên viết về XHCD là cuốn Xây dựng xã hội thị dân Trung Quốc xuất bản năm 1992. Tác giả cho rằng quá trình nghiên cứu XHCD ở Trung Quốc có thể chia hai giai đoạn: – Thời kỳ 1992-2000: nghiên cứu vấn đề Trung Quốc có tồn tại XHCD hay không; có thể xây dựng được XHCD không; mối quan hệ giữa XHCD với hiện đại hóa XHCN. – Từ sau năm 2000 trở đi: chú trọng nghiên cứu lý luận XHCD của giới xã hội học phái tả phương Tây.

Tháng 1/2009, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh phát hành Sách Xanh về sự phát triển xã hội công dân Trung Quốc, nhận định sự hình thành XHCD là một thành tựu vĩ đại của 30 năm cải cách mở cửa.

Tháng 4/2011, Trung tâm nghiên cứu XHCD của Đại học Bắc Kinh đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học XHCD và xã hội hài hòa, thảo luận 3 đề tài: – XHCD và xã hội hài hòa; – Mối quan hệ giữa XHCD với chính quyền; – Con đường tự sinh trưởng của XHCD Trung Quốc.

Nhiều học giả đã phát biểu ý kiến

Cho tới nay giới học giả Trung Quốc vẫn tranh cãi nhiều về các vấn đề như: Thế nào là XHCD, Trung Quốc hiện nay có bao nhiêu TCXH, các tổ chức đó có tác dụng như thế nào, XHCD Trung Quốc có đặc điểm gì khác XHCD phương Tây, môi trường sinh tồn và phát triển của XHCD Trung Quốc ra sao, v.v…

ĐCSTQ đặc biệt quan tâm hướng dẫn cuộc thảo luận về XHCD nói trên. Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ đã viết nhiều tài liệu có giá trị về XHCD.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: