TSP's Weblog

Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ

Máy ảnh & Ống kính máy ảnh:Những điều cần biết và cách phân loại

Posted by Thái Trịnh trên 02/06/2012

Máy ảnh số: Những điều cần biết và cách phân loại

Ngày nay, việc sở hữu một chiếc máy ảnh số đã không còn là điều quá xa vời đối với nhiều người. Máy ảnh số có nhiều ưu điểm hơn máy ảnh phim ở tính tiện lợi (chụp và chia sẻ), tiết kiệm (tính trên khoảng chi phí lâu dài) và gọn nhẹ (trọng lượng, lưu trữ). Tuy nhiên, chọn được một chiếc máy ảnh số sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng và túi tiền của mỗi người là điều không hề dễ.

Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu với việc phân loại máy ảnh. Máy ảnh số ngày nay có thể tạm chia thành hai loại phổ biến: loại có thể tháo rời (và chuyển đổi qua lại) ống kính và loại ống kính liền hay còn gọi là máy ảnh du lịch.

Máy ảnh ống kính rời

Gồm có 2 phần chính: thân máy (body) và ống kính (lens) có thể tháo rời, cũng là đặc điểm dễ nhận dạng nhất của loại máy ảnh này. Máy ảnh ống kính rời thông dụng gồm có:

 
– DSLR: (Nikon D90, D7000, Canon 60D, 600D, Pentax K-r, K7,…) là loại máy ảnh ống kính rời có gương lật, có kính ngắm quang.
 
– Mirrorless: (Nikon V1, J1, Olympus E-PL3, Sony NEX-5N, NEX-7,…) là loại máy ảnh không gương lật nên đa số ngắm chụp bằng màn hình LCD. Một số mẫu máy có thêm kính ngắm điện tử (electric viewfinder).
 
Máy ảnh ống kính rời thường sử dụng cảm biến lớn, có hệ thống ống kính rời đa dạng, đáp ứng mọi mục đích chụp nên cho chất lượng ảnh vượt trội. Tuy vậy, sử dụng máy ảnh ống kính rời phức tạp hơn nhiều so với máy ảnh du lịch, bởi có nhiều thiết lập yêu cầu người cầm máy phải có các kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh.
Máy ảnh ống kính rời đơn phản xạ (Digital – Single Lens Reflex) có cấu tạo cực kỳ phức tạp.

Chú thích:

1 – Hệ thấu kính (ống kính máy ảnh)
2 – Gương phản xạ
3 – Cửa sập mặt phẳng lấy nét, hay còn gọi là màn sập/màn chập (trập)
4 – Sensor (cảm biến)
5 – Màng mờ
6 – Lăng kính condenser
7 – Lăng kính 5 cạnh
8 – Lỗ ngắm
Nguyên tắc hoạt động:
Với mục đích căn hình, gương sẽ phản xạ ánh sáng đến từ ống kính một góc 90 độ. Sau đó ánh sáng được phản xạ 2 lần bởi hệ thống phản xạ điều chỉnh sao cho mắt của người chụp ảnh có thể thấy được. Trong quá trình phơi sáng, gương sẽ được nâng lên và khẩu độ đóng lại (khi khẩu được thiết lập nhỏ hơn khẩu độ tối đa của ống kính), và cửa sập mở, cho phép ánh sáng đi qua ống kính vào cảm biến ảnh. Tiếp theo cửa sập sẽ đóng lại, che cảm biến, kết thúc quá trình phơi sáng, và gương hạ xuống. Thời gian gương nâng lên được gọi là khoảng thời gian tối ở ống ngắm hay còn gọi là thời gian chụp (tốc độ chụp). Hệ thống gương và cửa sập hoạt động nhanh được sử dụng cho việc chụp ảnh với tốc độ cao.
 
Máy ảnh du lịch (Point and shot)
 
Là loại máy ảnh gọn nhẹ, dễ sử dụng đúng như tên gọi: “bấm và chụp”, ống kính gắn liền không thể tháo rời hay thay đổi, không có gương lật và do đó không có kính ngắm quang (optical viewfinder) mà thường chỉ có màn hình LCD. Máy sử dụng cảm biến nhỏ, vì thế chất lượng ảnh kém hơn nhiều máy ảnh ống kính rời.
Máy ảnh du lịch có cấu tạo đơn giản hơn DSLR rất nhiều.

Cảm biến máy ảnh số

Cảm biến là bản mạch bán dẫn có khả năng cảm nhận ánh sáng chiếu lên trên nó, nhờ đó mà hình ảnh được ghi nhận dưới dạng mã hóa điện tử (kỹ thuật số). Như vậy về bản chất, cảm biến máy ảnh số đã làm nhiệm vụ của phim nhựa và màn trập trên máy ảnh cơ.
 
Cảm biến của máy ảnh ống kính rời thông thường gồm ba loại, có kích thước giảm dần: Full Frame, APS-C và Four-Thirds. Cảm biến Full Frame là loại cảm biến được gắn trên những thân máy ảnh cao cấp nhất, kích thước của chúng bằng với kích thước của 1 khung phim trong cuộn phim 35mm thường dùng. Cảm biến APS-C nhỏ hơn 1.5 lần, trong khi đó cảm biến Four-Thirds hay micro Four-Thirds nhỏ hơn 2 lần. Mới đây nhất, Nikon cho ra đời dòng máy ảnh không gương lật V1, J1 với cảm biến nhỏ hơn 2.7 lần cảm biến Full Frame.
Tương quan kích thước các loại cảm biến máy ảnh.

Sự khác biệt về kích thước này dẫn đến một khái niệm gọi là “Crop Factor” (Hệ số cắt / Hệ số cúp). Hiểu đơn giản là khi chụp ở cùng 1 điều kiện y hệt nhau (tiêu cự ống kính, khoảng cách, góc chụp, v..v..) thì diện tích khung hình mà cảm biến APS-C và Four-Thirds thu được sẽ tương ứng nhỏ hơn 1.5 lần và 2 lần so với cảm biến Full Frame. Do đó, nếu muốn thu được hình ảnh y hệt nhau thì người dùng cảm biến APS-C (hay Four-Thirds) sẽ phải đứng xa hơn người dùng cảm biến Full Frame 1.5 (hay 2) lần khoảng cách đến chủ thể, hoặc sử dụng ống kính có tiêu cự ngắn hơn 1.5 (hay 2) lần tiêu cự ống kính gắn trên Full Frame.

 
Tất cả các ống kính máy ảnh hiện nay đều ghi tiêu cự theo tiêu cự tiêu chuẩn của máy phim, tương đương với kích thước cảm biến Full Frame.
 
Thông số về tiêu cự ghi trên ống kính máy ảnh đều theo “chuẩn 35mm” – nghĩa là chuẩn trên cảm biến Full Frame. Bởi vậy, khi sử dụng trên các máy có cảm biến nhỏ hơn, bạn phải nhân chúng với hệ số cắt tương ứng để được tiêu cự thực tế.
 
Ví dụ: ống kính có tiêu cự 24mm khi gắn trên máy APS-C sẽ tương đương với tiêu cự 24mm X 1.5 = 36mm trên máy Full Frame.
 
Các máy ảnh ống kính rời có cảm biến Full Frame là loại máy ảnh cho chất lượng ảnh chụp cao nhất, và giá thành cũng thường đắt nhất, lên đến hàng nghìn USD. Đây thường là lựa chọn của những người theo đuổi nhiếp ảnh nghiêm túc, hoặc làm nghề liên quan tới nhiếp ảnh. Trong khi đó máy ảnh du lịch có giá thành trải dài từ khoảng 1000 USD cho đến 100-200 USD. Máy ảnh du lịch sử dụng cảm biến loại rất nhỏ, thường chỉ thích hợp với mục đích lưu giữ lại những khoảnh khắc kỷ niệm hay chia sẻ cùng bạn bè, gia đình mà thôi.
 
Trên đây là những khái niệm đầu tiên khi bạn muốn tìm hiểu về thế giới máy ảnh số. Người đọc có thể theo dõi những bài viết trong chủ đề bằng cách search tag “Chuyên đề máy ảnh số” tại khung tìm kiếm của GenK. Trong loạt bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ gửi tới độc giả kiến thức cơ bản về vô vàn những vấn đề khác. Chúc các bạn có những hiểu biết vững vàng để chụp được những tấm hình tuyệt đẹp.

Ống kính máy ảnh: Những điều cần biết và cách phân loại

Phân loại theo tiêu cự ống kính

 Tiêu cự của ống kính được định nghĩa là khoảng cách tính từ tâm ống kính (trung điểm đoạn thẳng nối hai tâm đường tròn thấu kính trước và sau) tới cảm biến của máy.
 
Tuy nhiên định nghĩa này không mang giá trị gì mấy đối với người sử dụng, nên có thể hiểu một cách đơn giản là tiêu cự thể hiện góc nhìn và độ bao phủ diện tích khung hình chụp. Cụ thể: tiêu cự càng ngắn thì góc nhìn càng rộng, càng thu được nhiều chi tiết cảnh vật vào trong khung hình và ngược lại, tiêu cự càng dài góc nhìn sẽ càng hẹp.
 
Phân loại ống kính theo tiêu cự bao gồm 3 loại ống kính:
 
–         Ống kính góc rộng (wide lens): ống kính có tiêu cự ngắn (nhỏ hơn 35mm), cho góc nhìn rộng, thường sử dụng để chụp phong cảnh.
 
–         Ống kính tầm trung (normal lens): ống kính cho góc nhìn trung bình (từ 35 – 70mm).
 
–         Ống kính tầm xa (tele lens): ống kính tiêu cự dài (hơn 70mm), cho góc nhìn hẹp nhưng có khả năng “kéo vật lại gần” hơn so với khoảng cách thực (tương tự ống nhòm).
Ống kính tele 70-200mm của các hãng Canon, Nikon, Sigma.
Phân loại theo thông số ghi trên ống kính

Trên thân ống kính bao giờ cũng có các thông số liên quan tới độ mở và tiêu cự của ống kính (độ mở là gì, tác dụng của chúng ra sao sẽ được nói tới trong các phần tiếp theo sau). Theo đó, có thể phân chia ống kính ra làm 3 loại khác nhau:
 
–         Ống kính một tiêu cự (prime lens/ fixed lens): thường gọi là “ống kính zoom chân” do tiêu cự không thay đổi được, và vì thế khi muốn thay đổi góc nhìn hoặc tỉ lệ chủ thể trong ảnh, người chụp buộc phải di chuyển cùng với máy. Do tiêu cự không thay đổi được, nghĩa là khoảng cách giữa hai thấu kính trước – sau được giữ cố định nên prime lens cho chất lượng hình ảnh rất sắc nét, đặc biệt thường có độ mở lớn.
 
–         Ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ: là ống kính dạng “zoom”, có khả năng thay đổi tiêu cự trong một dải cố định hai đầu bằng cách xoay hoặc đẩy lens. Khi thay đổi tiêu cự trong dải này, độ mở ống kính cũng tự động thay đổi theo.
Ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ 18-105mm 1:3.5-5.6 của Nikon.

–         Ống kính dải tiêu cự khẩu độ cố định: tương tự ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ, nhưng khẩu độ không bị thay đổi tự động theo tiêu cự ống kính.
Ống kính dải tiêu cự khẩu độ cố định 24-70mm f1:2.8 L nổi tiếng của Canon.

Ống kính trên máy ảnh du lịch
Tuy không thể tháo rời và thay thế, nhưng ống kính trên máy ảnh du lịch cũng có thể phân chia theo các cách trên. Thông thường, chúng là ống kính dải tiêu cự đa khẩu độ. Một số máy du lịch có khả năng “zoom” rất xa (10x, 15x, 24x, 36x). Trong khi một số khác lại có khả năng chụp góc cực rộng (24mm), tương đương ống kính góc rộng. Tuy nhiên, đường kính ống kính nhỏ, cấu tạo ống kính đơn giản và giá trị độ mở nhỏ là những điểm yếu khiến chất lượng hình ảnh trên máy du lịch khó có thể đẹp được.
Máy ảnh du lịch P300 có góc chụp rộng 24mm của Nikon.
Máy ảnh siêu zoom 30X Finepix HS20 của Fujifilm.
Cách đọc thông số ghi trên ống kính

Lấy ví dụ với ống kính kit phổ biến của máy ảnh ống kính rời Nikon là (VR) AF-S Nikkor 18-55mm 1:3.5-5.6 G:
AF-S: hệ ống kính có motor lấy nét tự động (Auto Focus – AF) tiên tiến nhất của Nikon, cho tốc độ lấy nét nhanh và êm ái (Silent – S).

 
Nikkor: ống kính dành cho thân máy Nikon.
 
18-55mm: dải tiêu cự thay đổi được của ống kính, từ góc nhìn rộng nhất (18mm) cho tới hẹp nhất (55mm) khi zoom. Có thể thấy ống kính này được xếp vào loại tiêu cự “bắc cầu” từ góc rộng tới tầm trung theo cách phân loại ở trên.
 
1:3.5-5.6: giá trị độ mở của ống kính. Ở tiêu cự ngắn nhất (18mm) ống kính có thể đạt được tới độ mở tối đa là f/3.5, và ở tiêu cự dài nhất (55mm) độ mở tối đa mà ống kính có thể đạt được chỉ là f/5.6.
 
G: công nghệ thấu kính tiên tiến của Nikon.
 
Một điểm cần lưu ý ở đây rằng, vì các con số 3.5 hay 5.6 này thực chất đều là mẫu số trong phân số có tử số cố định bằng 1, nên con số này càng cao thì giá trị độ mở lại càng nhỏ (tỉ lệ nghịch). Ví dụ 1:2.8 (hay f/2.8) sẽ thể hiện độ mở lớn hơn 1:8 (hay f/8).
 
VR: cho biết ống kính này được tích hợp tính năng chống rung (Vibration Reduction).
 
Một ví dụ nữa với ống kính “ngon – bổ – rẻ” của Canon: EF 50mm 1:1.8 II.
EF: hệ ống kính có thể lấy nét tự động hoặc lấy nét bằng tay (Manual Focus) tùy ý muốn người sử dụng.

 
50mm: tiêu cự của ống kính. Do chỉ có 1 giá trị (khác với ống kính 18-55mm ở trên) nên đây là dạng ống kính một tiêu cự (prime lens) như cách chia ở trên. Đây cũng là ống kính có tiêu cự nằm trong khoảng tầm trung (normal lens).
 
1:1.8: giá trị độ mở tối đa của ống kính. Do tiêu cự không thay đổi được nên độ mở ống kính cũng có thể giữ cố định, tùy thuộc vào ý muốn người sử dụng.
 
II: thế hệ thứ 2 của loại ống kính này.
 
Một số ký hiệu thường gặp trên ống kính máy ảnh và ý nghĩa của chúng
 
–         VR (ống kính Nikon), IS (ống kính Canon), OSS (ống kính Sony), OS (ống kính Sigma): đều mang ý nghĩa rằng ống kính này được tích hợp tính năng chống rung quang. Bằng cách xê dịch các thấu kính bên trong ống kính, tính năng này sẽ triệt tiêu hiện tượng rung/nhòe hình trong quá trình chụp.
 
–         Mark I, II, III,…: thế hệ thứ 1, 2, 3,… của loại ống kính này.
 
–         USM (ống kính Canon), SWM (ống kính Nikon): ống kính lấy nét tự động tốc độ cao và không gây tiếng ồn. USM là viết tắt của Ultrasonic Motor, SWM là viết tắt của Silent Wave Motor.
 
–         Macro: ký hiệu bằng hình một bông hoa (xem ống kính Canon EF 50mm 1:1.8 II ở trên), cho biết ống kính có khả năng chụp Macro (siêu cận cảnh), lấy nét ở khoảng cách rất gần so với thông thường.
 
–         G, D, N, L: thể hiện mức độ hiện đại của kỹ thuật chế tạo ống kính. Trong đó N (Nano) và L (Luxury) là hai dòng ống kính đẳng cấp cao nhất của Nikon và Canon.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: