TSP's Weblog

Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ

LUÂN HỒI – Chương thứ năm

Posted by Thái Trịnh on 07/07/2011

CHƯƠNG THỨ NĂM

Xem thêm

 TIỂU SỬ ĐỨC NGỌC ĐẾ

Cuốn Luân Hồi đáng lẽ tới đây chấm dứt, song tôi xin thêm đoạn sau nầy nói về tiểu sử Đức Ngọc Đế là Đấng Chí Tôn cai trị trái đất nầy, những chuyện nam hóa nữ và nữ biến ra nam (đặng cho các bạn biết sự phân chia nam nữ là chuyện có thật một trăm phần trăm chớ không phải là chuyện vu vơ hoang đường), câu chuyện Tổ tông loài người ở đâu ?

Tiểu sử Đức Ngọc Đế.-

Theo “Luật Trời” thì trên mỗi bầu hành tinh có ba vị Ngọc Đế thay mặt cho Đức Thái Dương Thượng Đế và thay phiên nhau đặng cai trị muôn loài vạn vật. Tại trái đất nầy, Đức Ngọc Đế hiện thời là Đức thứ ba. Ngài vốn ở bầu Kim Tinh (Vénus) qua trái đất mình mới có 6 triệu rưởi năm nay, hồi giống dân thứ ba phân chia nam nữ. Ngài có ba mục đích:

Một là, thúc giục sự tiến hóa về đường trí thức.

Hai là, lập Quần Tiên Hội tại trái đất.

Ba là, cầm quyền cai trị.

Đồng đi với Ngài có ba vị đệ tử của Ngài là ba vị Độc Giác Phật mới kể ra khi nảy. Gần 30 vị Đại Thánh đủ cấp bực và lối 100 người thường dân ở Kim Tinh mà Ngài đem xuống cho trà trộn với nhơn loại ở trái đất. Ngài cũng đem theo lúa mì, loài ong mật, loài kiến đặng giúp cho loài thảo mộc đậu bông mau lẹ và dễ dàng. Phần đông các vị Đại Thánh sau khi giúp đỡ nhơn loại rồi thì về bầu thế giới khác.

Đức Ngọc Đế và ba vị Độc Giác Phật không có cái xác phàm như mình vậy. Thân hình các Ngài do phép thần thông hóa ra đã 6 triệu rưởi năm rồi, tuy không ăn, không uống mà vẫn không già, không cỗi, không phai, không lợt. Tác Đức Ngọc Đế như một người trai trẻ mười sáu thanh xuân (adolescent de seize printemps) đại từ đại bi song oai nghi lẫm liệt; những vị đệ tử được ba lần điểm đạo quì dưới chơn Ngài nắm nắm nớp nớp không dám ngó ngay lên. Cái Tâm của Ngài thông suốt hết tất cả mọi việc xảy ra trên Trái đất nầy trong 7 cõi: từ cõi Tối Đại Niết Bàn cho tới cõi Phàm. Hào quang Ngài bao trùm trái đất, không có một con kiến nào chết cùng là một việc bất công nào kín nhiệm mà Ngài không hay không biết. Duy có một mình Ngài được phép điểm đạo mà thôi. Song, thường thường điểm đạo 2 kỳ đầu, lần thứ nhứt và lần thứ nhì, thì Ngài giao quyền cho Đức Chưởng Giáo hay là một vị Chơn Sư thay mặt cho Ngài. Không có mạng lịnh của Ngài thì không có ai được vào Quần Tiên Hội. Ngài có cây Pháp lịnh (Sceptre de pouvoir) của Đức Huyền Thiên Thượng Đế (Logos planétaire) ban cho, lối 6 tấc bề dài, 5 phân bề kính tâm, làm bằng một loại kim tương tợ như vàng (Oricalcum) thứ nầy hiện giờ trên địa cầu không còn, hai đầu nhận 2 hột xoàn tròn rất lớn, đầu nhọn, luôn luôn dường như có lửa bao bọc và hào quang sáng rỡ. Cây Pháp lịnh nầy có tính liên can mật thiết với sanh mạng các loài trên thế gian. Nếu cầm cây Pháp lịnh nầy mà qua bầu thế giới khác thì muôn loài vạn vật trên đia cầu nầy đều chết ráo. Cây Pháp lịnh nầy luôn luôn ở tại Thiên Cung và dường như chỉ rời ra có 2 kỳ: lúc điểm đạo và lúc Vía Phật Thích Ca mỗi năm thường chạy nhằm ngày rằm tháng tư [10] giờ trăng tròn.

Theo lẽ thì trong cuộc tuần huờn thứ tư nầy nhơn loại chỉ mở được tình cảm mà thôi, qua cuộc tuần huờn thứ năm mới mở hạ trí. Nhưng nhờ Đức Ngọc Đế và 3 vị Độc Giác Phật dùng thần lực, cũng như từ điển, làm cho các năng lực trong trí con người mở mang ra, không khác nào ánh sáng mặt trời làm cho cái bông đương búp nở lần lần. Vì vậy ngày nay con người mới được khôn khéo như thế nầy.

Cũng nhờ Ngài mà cả triệu thú vật mới được đi đầu thai làm người trong lúc phân chia nam nữ. Thường thường Ngài lo lắng sự tiến hóa chung của cả trăm triệu linh hồn, nhưng nếu Ngài tưởng đến một người nào riêng thì ân huệ của Ngài ảnh hưởng tới Ắt Ma, là ngôi thứ nhứt của Chơn Nhơn.

Trái đất nầy coi rộng lớn, song kỳ thật ở trong lòng bàn tay Ngài. Hiện giờ Thiên Cung Sam-ba-la (Shamballa) ở tại ốc đảo (oasis) giữa sa mạc Gô-bi (désert de Gobi). Các bạn nghe vậy chớ lấy làm lạ, bởi vì 6 triệu rưởi năm trước, chỗ sa mạc Gô-bi bây giờ là mênh mông đại hải, còn ốc đảo là một cái cù lao gọi là Bồng Lai, phong cảnh u nhàn, khắp thế gian không có nơi nào sánh kịp và dường như quả địa cầu để dành riêng chỗ đó làm món quà dâng cho Đấng Chí Tôn thay mặt cho Đức Thái Dương Thượng Đế. Sau một cuộc tang thương đại hải, Gô-bi biến thành sa mạc, song Bồng Lai vẫn còn xinh đẹp như xưa. Tuy ở vào đại lục song người phàm chớ trông bước chơn tới đó được. Chung quanh ngai vàng luôn luôn có những Đại Thiên Thần chầu chực sẵn sàng vâng mạng lịnh của Ngài sai khiến. Đúng 7 năm thì có một đại hội, Đức Ngọc Đế cho vời các Tiên Thánh trên địa cầu lại Bồng Lai, có lẽ đặng bàn tính những công việc phải thi hành cho hạp với Thiên Cơ. Cũng có vài vị La hán được mời đến dự. Ngoài ra trường hợp nầy khi Ngài ra lịnh đòi ai đến thì mới được phép tới Thiên Cung. Ngày thường, Ngài chỉ tiếp kiến các vị Đại Thánh như Đức Chưởng Giáo, Đức Bàn Cổ, Đức Văn Minh Đại Đế và các Đức Đế Quân mà thôi. Kinh thánh bên Thiên Trước gọi Ngài là Sanat Koumara (Sa-na Cu-ma-ra), còn 3 vị Độc Giác Phật là:

Sanandara (Sa nan đa ra)

Sanaka (Sa na ca) và

Sanatana (Sa na ta na)

Sau khi nhơn vật bỏ bầu trái đất nầy qua bầu Thủy Tinh (Mercure) thì 3 vị Độc Giác Phật sẽ thay phiên nhau lãnh chức Ngọc Đế đặng dìu dắt sự tiến hóa trên tinh cầu đó.

NHỮNG CHUYỆN ĐÀN ÔNG HÓA RA ĐÀN BÀ VÀ

ĐÀN BÀ HÓA RA ĐÀN ÔNG TỪ ĐÔNG PHƯƠNG TỚI TÂY PHƯƠNG.

Tuy phân nam nữ rồi song trong bộ phận sanh dục của mỗi giống đều còn giữ một phần của giống kia, cho nên mới có sự biến đổi nam ra nữ, nữ ra nam được.

Dưới đây là những chuyện rút trong các báo đã đăng ra từ mười mấy năm nay.

 Ở Đông phương con gái hóa ra con trai

(Rút trong báo Công Luận)

Trước đây bổn báo có đăng một việc như việc nầy, nói một người Tàu nguyên thân hình là con gái, sang buôn bán ở Mỹ Châu, sau tự nhiên thấy thân hình biến thành con trai rồi lấy vợ, trở về nước làm một chức việc tại huyện nha, ai nầy đều lấy làm lạ cả. Nay lại xem trong báo Tàu có thuật một việc giống như thế, chính tác giả tự nói là quả trông thấy người ấy. Vậy xin thuật lại sau đây để độc giả nhàn lãm.

Các nhà Sinh vật học đã từng nghiên cứu trong các loài sinh vật, có nhiều giống như giống “cá man” ở dưới biển thường thường con cái hóa làm con đực, con đực hóa làm con cái, mà mỗi khi nó đã biến thân thì mất hẵn cái tính trước đi. Giống cá còn thế, vậy thì giống người ta mà biến hóa như thế, tưởng cũng có thật. Còn cái lẽ biến hóa như thế nào, tất phải do các nhà Sinh vật học nghiên cứu mới biết rõ được.

Vào khoảng năm đầu vua Quang tự nhà Thanh, có một viên hậu bổ Tri phủ Quảng đông là Trần Mỗ nguyên đổ Tiến sĩ, nên được quan Tổng đốc  hai tỉnh Quảng là Trương chi Đông đem lòng yêu, cho làm chức tốt, bổng lộc rất hậu, làm nên giàu có, trong nhà nuôi nhiều tôi tớ. Hai vợ chồng Trần Mỗ lúc đầu đều đã ngót năm mươi, chỉ sinh được một người con gái yêu quí như hòn ngọc báu trên tay; vì hiếm hoi nên cho ăn mặc giả làm con trai, trong bó chân mà ngoài thì đi giày to, đội mũ nhỏ, mặc áo dài, nghiểm nhiên như một vị công tử. Khi lên mười tuổi, đón một vị danh sư về dạy cho học. Trần Mỗ lại nuôi một con bé ở tên là Phú Quí, cũng đồng tuổi với người con gái ấy. Vì thấy nó lanh lợi nên cho cùng học. Người con gái ấy đã rất thông minh lại chăm chỉ học hành, Trần Mỗ đặt tên là Trần kế Tiên, là có ý coi như một người con trai, sau nầy sẽ nối được nghiệp nhà vậy.

Nhưng mỗi khi ra chơi ngoài phố, mọi người trông thấy đều gọi là Tiên Cô. Kế Tiên cùng với Phú Quí rất yêu nhau dẫu là con chủ nhà với đứa con ở, nhưng ăn cùng bàn, ngủ cùng giường, ngày đêm quấn quít nhau, không lúc nào rời nhau ra. Đến khi Kế Tiên và con Phú Quí đều đã mười lăm tuổi, Trần Mỗ không cho đi ra ngoài nữa, lại vì bó chân, ăn mặc quần áo và đi giày con trai không tiện, nên bắt phải để tóc và ăn mặc nữ trang như các vị tiểu thư khác.

Thắm thoát Kế Tiên đã 18 tuổi.

Từ năm 16, Trần Mỗ đã nhận lời gả cho con trai quan Đạo đài ở tỉnh ấy. Được hai năm quan Đạo đài nhờ mối đến nói xin cưới, Trần Mỗ ưng cho, quan Đạo đài liền chọn ngày đón dâu và sai người nhà đem các lễ vật đến nhà Trần Mỗ. Khi ấy ở nhà Trần Mỗ cũng bày tiệc rất linh đình, vì có một con gái nên làm lễ cưới rất to. Đang trong lúc náo nhiệt, bỗng thấy con Phú Quí từ phòng Kế Tiên tiểu thư hốt hoảng chạy ra đi lên phòng trên, dắt tay bà Trần Mỗ đi vào trong một cái phòng kín đóng chặt cửa lại, rồi quì hai gối xuống mà kêu van rằng: “Xin bà lớn rộng lòng tha thứ cho, con có một việc khẩn cấp, xin bẩm bà lớn nghe”. Bà Trần Mỗ tự nhiên thấy nó dắt vào đó, lại thấy nó có vẻ lo buồn, không hiểu ra thế nào, lấy làm lạ quá, liền quát mắng rằng: “Phú Quí ! Mầy điên hay sao đấy, mà tự nhiên dắt tao vào đây ? Lại làm cái hình trạng quái lạ như thế ? Mầy có tội gì mà xin tha ? Mau mau nói cho tao nghe, trong lúc có việc vui mừng, chớ nên khiến cho ta phải sợ hãi. Mầy nói ngay thì tội to thế nào tao cũng tha cho, ngày thường ta đãi mầy thế nào, hẳn mầy cũng đã biết, vậy cớ sao mầy lại làm cái bộ sợ hãi như thế ? Nói mau lên !”

Con Phú Quí thấy bà Trần Mỗ giục mãi nói mau, ngập ngừng một lát rồi mới thưa rằng: Con đây đội ơn Bà lớn yêu như con gái nên mới được cùng tiểu thư cùng ăn cùng nằm, đêm ngày cùng tiểu thư học tập, không ngờ tiểu thư năm 16 tuổi bỗng một đêm thân hình hóa ra trai ôm ấp trêu nghịch con. Con thấy sự lạ lùng, vả bị tiểu thư đùa nghịch không dám nói ra, nhưng từ đó về sau, vẫn khuyên tiểu thư đem ngay việc ấy, bẩm cho Ông lớn Bà lớn biết. Không ngờ tiểu thư cứ giấu quanh không chịu nói, lại cấm không cho con được tiết lộ ra. Con sợ tiểu thư, cũng không dám nói, nào ngờ vài tháng trước đây con nghe mình hơi khác, lúc mới cứ ngỡ là có bịnh, sau thấy bụng mỗi ngày mỗi to, mới biết là thân con đã mang thai. Con thấy vậy lấy làm sợ quá, bắt tiểu thư phải mau mau nói ngay cho ông lớn bà lớn biết. Con lại bảo là nếu cứ giấu mãi không chịu nói ra thì mai kia nhà trai đến đón dâu, tiểu thư biết ra thế nào cho xuôi. Mà con đây cũng phải hàm oan không sao tỏ được, rồi đến phải chết cả, chớ chẳng chơi. Không ngờ tiểu thư vừa sợ vừa thẹn, vẫn không dám nói cho bà lớn biết, cúi xin bà lớn rộng lượng nghĩ cho con được thế nào thì nhờ thế ấy”.

Con Phú Quí nói rồi lại cứ vập đầu lạy như đâm tỏi. Bà Trần Mỗ giật mình cả sợ, bỗng lại nổi giận mà mắng rằng: Con nầy nó hóa điên chắc, tự nhiên mầy laị đặt bày câu chuyện kỳ quái để dọa nạt hay sao ? Kế Tiên chính là con gái ta đẻ ra, ta lại nuôi cho đến lớn, rõ ràng là con gái, có lẽ nào lại biến làm con trai. Con nầy phải đáng chết mới được. Ta nay hỏi mầy: Mầy bảo tiểu thư hóa làm con trai, vậy thì hóa vào chỗ nào?  Nói mau cho tao biết ? Con Phú Quí nói: Bẩm quả là công tử, chớ không phải là tiểu thư nữa, con xem ra thì một nửa là thân con trai, một nửa là thân con gái.

Bà Trần Mỗ lại càng lấy làm lạ, lại mắng rằng: “Mầy nói láo, chứ có lẽ nào thế. Chắc mầy lại đi thông dâm với đứa nào, lở chướng thây ra, muốn gở tội nên đặt chuyện ra thế chớ gì ! Vậy tao hỏi mầy: thế nào mà mầy biết một nửa là thân con trai và một nửa là thân con gái ? Mầy phải nói rõ cho tao nghe, không thì ta giết mầy ngay bây giờ”.

Con Phú Quí nói: Trước mặt bà lớn khi nào con lại dám nói sai. Bấy lâu con vẫn cùng công tử ngủ cùng giường từ bé đến lớn, con vẫn thấy là con gái, chớ không thấy gì khác cả.

Mãi đến năm công tử 16 tuổi trở đi, mỗi đêm cứ đến canh năm thời công tử … Con Phú Quí nói đến đó mặt đỏ bừng lên, như quả ớt chín, không thể nói được nữa. Bà Trần Mỗ lại thét nói mau. Nó lại nói rằng: “Từ đó con mới biết công tử là thân con trai, chớ không phải là thân con gái, xét ra đến năm 16 tuổi mới biết ra sự lạ lùng như thế, con từ sau khi bị công tử đùa nghịch rồi, vẫn thường một hai nói với công tử phải bẩm thực cho bà lớn biết, chớ nên lần lựa mà hại mình. Thân con là kẻ tôi đòi dẫu có chết vẫn không đủ tiếc, chỉ ái ngại thay cho công tử ngày nay nghiễm nhiên là thân con trai mà cứ giấu giếm mãi rồi ra sẽ bị oan khuất một đời, há chẳng đáng tiếc lắm ru ? Con nói đã hết lời mà công tử vẫn cứ giấu quanh không nói. Nếu bà lớn không tin xin đến canh năm đêm nay, rình lúc công tử ngủ say, bà lớn tự vào khán nghiệm, thì thật giả thế nào sẽ thấy rõ vậy”. Bà Trần Mỗ thấy con Phú Quí nói chắc như thế, cúi đầu không nói gì, trong lòng nghi rất lấy làm quái lạ, vừa sợ vừa mừng, một lát nói rằng: “Mầy đã nói bằng cớ như thế, vậy để đến đêm nay tao khán nghiệm xem thế nào rồi tao sẽ bảo”.

Đêm hôm ấy, bà Trần Mỗ ngồi chờ hết canh tư, rón rén bước vào trong phòng tiểu thư, quả nhiên đến trống canh năm thấy con Phú Quí lấy tay vén màn ra rón rén bước xuống đất, trông thấy bà Trần Mỗ liền gật đầu ra hiệu bảo bà trèo lên giường, còn nó thì ngồi im mội bên để xem thế nào.

Bà Trần Mỗ thót mình trèo lên giường, nằm ngay bên cạnh Kế Tiên không biết xem nghiệm thế nào, bỗng thấy bà sững sốt cả người ra ý thẹn thuồng lắm, rồi nói to ra một tiếng rằng: Ồ ! Lạ quá ! Lạ quá ! Kế Tiên đương ngủ giật mình tỉnh dậy thấy bà mẹ ngồi ở bên cạnh, biết việc mình đã tiết lộ ra mất rồi, thẹn quá cứ cắm mặt xuống, bà Trần Mỗ liền nắm tay lôi xuống giường chỉ vào mặt mà mắng rằng: Kế Tiên ! Thân con đã biến làm con trai, sao lại cứ giấu quanh không nói ngay ra cho chúng ta biết, lại cùng Phú Quí làm việc tối tăm, để cho cha mẹ đem gả cho người ta, mãi đến bây giờ người ta sắp làm lễ cưới, vẫn còn giấu kín không nói, vậy ta không hiểu là lòng con nghĩ định như thế nào ? May mà con Phú Quí nó có mang, sợ ngày sau không lấy gì làm bằng, nên nó thú thật cùng ta, bảo ta đêm nay đến khán nghiệm. Hiện ta đã xét rõ, mầy quả là thân con trai rồi, chớ không phải là thân con gái. Nếu con Phú Quí nó không có mang mà mầy nhứt định cứ giấu mãi đến hôm kiệu hoa đem đến cửa, không những mầy bị xấu hổ, mà cha mầy lúc ấy biết nói với người ta thế nào. Tất là người ta bảo cha mầy đánh lừa đem con trai giả làm con gái, thì có là mầy làm nhục cho cha mầy không ? Kế Tiên bị bà mẹ nhiếc mắng cho một hồi, đành cứ phải cúi đầu đứng ngay mặt ra không dám nói một lời nào cả. Lúc ấy ông Trần Mỗ đang ngủ tại trong phòng, bà Trần Mỗ chạy đến gõ cửa, bảo phải dậy ngay, có một việc khẩn cấp. Ông Trần Mỗ giật mình tỉnh dậy, không hiểu ra thế nào, lật đật chạy ra mở cửa hỏi có việc gì. Bà Trần Mỗ kéc áo bảo ngồi xuống, rồi ghé tai bảo thầm sự tình Kế Tiên cho nghe. Ông Trần Mỗ nghe nói giật nẩy mình, ngồi ngay ra một lúc, rồi mới nói rằng: Việc nầy thiệt là lạ quá, nhưng cũng là phúc cho nhà ta. Tôi và bà đương lo không có con trai, để nối lấy cái hương hỏa cho nhà Trần. Nhưng ta phải nói ngay cho quan Đạo đài biết mới được, kẽo lại làm lỡ việc nhà ông ấy ra. Ông Trần Mỗ nói rồi, lập tức ra thư phòng, toan sai người đi cầm thư mời quan Đạo đài đến nói chuyện, bỗng thấy bào có quan Đạo đài đến. Ông Trần Mỗ vội vàng ra đón vào. Khi đã ngồi yên, Trần Mỗ liền nói rằng: Tôi nói câu nầy hẳn Ngài phải lấy làm lạ.

Mà chính tôi cũng không hiểu ra thế nào. Việc liên nhân của hai nhà ta, không ngờ lại hóa ra dở dang ! Quan Đạo đài nghe nói liền biến sắc mặt, vội hỏi làm sao ? Ông Trần Mỗ liền kể hết tình hình việc Kế Tiên biến làm con trai và việc bà Trần Mỗ đã khán nghiệm ra thế nào cho Đạo đài nghe và nói rằng :

– Cũng may mà con Phú Quí có mang thai, nó sợ phải tội, vội nói ra, nếu không thì vợ chồng tôi cứ ngỡ là con gái. Nếu đưa nó về nhà Ngài thật là làm hại cho lịnh lang. Nếu ngài không tin, xin cho một người thân tín đến khán nghiệm sẽ biết rõ ràng. Quan Đạo đài ngẫm nghĩ một lúc rồi nói :

– Việc nầy thật là kỳ quái quá, trời đất sanh ra người ta lại có cái việc không ngờ đến như thế. Nếu hai ông bà đã khán nghiệm rõ ràng thì chắc là đích thật rồi, khi nào tôi lại có không tin. Vậy thì hai nhà ta đây, xét ra cũng là có một mối nhân duyên ràng buộc lấy nhau, hai đứa ấy đã không thành được vợ chồng, thì ta khiến cho chúng nó thành ra anh em, chớ có ngại gì. Con tôi thì làm anh, con ông thì làm em, lấy ngay cái ngày định lễ cưới cho chúng nó làm lễ kết làm anh em cũng là một việc hay đấy. Chẳng hay tôn ông nghĩ ra thế nào ? Quan Đạo đài nói xong liền dắt tay Kế Tiên cả cười mà nói rằng: Cháu ôi ! Ngày nay ta không thể làm cha chồng cháu thì ta sẽ làm bác cháu đây. Cha mẹ cháu bấy lâu không biết cháu là con trai, cứ cho cháu là con gái, điều đó cũng không lấy gì làm lạ. Nhưng thôi việc đã qua rồi, chẳng nói đến làm chi nữa. Chỉ tiếc là trót bó chân cháu thì sau nầy cháu ra đua chen vào đời thế nào được, vậy từ nay cháu nên cởi hai chân ra chớ bó lại nữa, ta sẽ đem cái món tiền định để cưới cháu, quyên cho cháu lấy một chút công danh để anh em cháu cùng được vẻ vang như chúng ta vậy. Quan Đạo đài nói xong liền bảo ông Trần Mỗ rằng: Chúng ta cứ nhứt định như ngày hôm ấy cùng làm tiệc mới khách, tưởng đó cũng là một sự vui mừng ít có vậy.

Quan Đạo đài nói rồi lên xe ra về. Đến ngày đã định trước, hai nhà đều chong đèn kết hoa, hát xướng linh đình, quan Đạo đài dùng một cái kiệu bốn người khiên, sai đến đón Kế Tiên về nhà cùng con trai mình nhận nhau làm anh em. Lúc ấy Kế Tiên đầu đội mũ, mình mặc bộ áo bào coi rất lịch sự, các tân khách đều tiễn ra khỏi cửa rồi cùng trở vào dự tiệc. Ông Trần Mỗ lấy làm vui vẻ quá, nói với các tân khách rằng: “Tôi thật không bao giờ lại nghĩ ra có cái việc như ngày hôm nay, không những tôi không nghĩ đến, ngay con tôi khi nó chưa đến 16 tuổi, tự nó cũng không nghĩ cái thân nó lại biến đổi như ngày nay. Người ta vẫn nói: Trong trời đất nầy không có việc lạ gì không có. Chính như cái việc của thằng con tôi như vậy”.

Ăn tiệc xong, ông Trần Mỗ cũng sai người đem kiệu đi đón con trai ông Đạo đài, một lát con trai ông Đạo đài cùng Kế Tiên đi kiệu vệ. Ông Trần Mỗ cùng các tân khách ra đón, hai người cùng bước lên thềm xin mời vợ chồng ông Trần Mỗ ra để cho hai người làm lễ chào lạy. Cách đó mấy hôm, quan Tổng đốc Trương chi Đông nghe nói có việc ấy, liền cho đòi ông Trần Mỗ vào để hỏi lai lịch. Ông Trần Mỗ kể rõ sự tình, quan Tỏng đốc lấy làm lạ quá, lúc ấy quan Đạo đài đã quyên cho Kế Tiên một chức quan Tá nhị, dẫn Kế Tiên vào chào lạy quan Tổng đốc. Quan Tổng đốc hỏi điều gì, Kế Tiên đều ứng đáp trôi chảy cả, tỏ ra người bạo dạn, tuyệt nhiên không có cái bộ rụt rè e lệ như đàn bà. Quan Tổng đốc có lòng yêu lắm, lập tức bổ cho làm quan. Ông Trần liền lấy con Phú Quí cho Kế Tiên làm vợ, lại làm tiệc mời khách tuyên bố việc ấy cho công chúng biết. Sau Phú Quí đẻ luôn ba trai, còn Kế Tiên làm được Tri huyện, đó là một việc mà chính tác giả đã được mắt trông thấy, không phải là bịa đặt vậy.

                                                          LONG THÀNH 

Chuyện nầy rút trong báo Công luận ngày 26 Octobre 1928. Bài nầy có phải là chứng chắc rằng thuở xưa con người có đủ hai bộ phận âm và dương trong mình chăng? Như không có đủ hai cái thì làm sao con gái hóa ra con trai được ? Đời nay thấy nhiều chuyện lạ vì chưng lâu lâu Tạo vật làm như muốn trở bước lại sau nên sanh ra những người bộ nấp, những người lại cái, và những người con gái biến đổi ra con trai đó.

Ở Tây phương nữ hóa nam

Chuyện đâu có chuyện lạ đời ! Trước đây trên báo Tân Văn chúng tôi có thuật chuyện một người đàn ông hóa ra đàn bà, chắc độc giả có nhớ. Chúng tôi cũng có thuật chuyện cô Joubkowa, người Ba lan chiếm được nhiều giải quán quân về thể thao, bỗng khi không lại trở nên đàn ông.

Mới đây lại có một việc cũng tương tự, cô tiểu thư Anh tên Marry Edith Weston cũng là một nhà quán quân thể thao, đã trở nên đàn ông. Số là lúc sau nầy bỗng nhiên cô Weston thấy trên má hồng của mình có râu mọc ra cứng và dài. Lấy làm lạ quá, cô mới đến tỏ việc mình cho một vị bác sĩ chuyên môn về khoa giải phẩu. Vị bác sĩ mới đem cô vào phòng mổ xẻ mà sửa đổi trong thân thể cô. Không rõ vị bác sĩ mổ xẻ cách nào, chỉ biết cái kết quả lạ lùng của sự mổ xẻ ấy mà thôi ! Lúc vào dưỡng đường thì cô mặc đồ đàn bà, đến khi đi ra thì cô lại mặc đồ đàn ông. Không phải cô cắc cớ mà ăn bận như vậy đâu. Không, cô ăn bận như vậy là vì cô ta trở nên một người đàn ông rồi. Cô không còn là Marry Edith Weston nữa, cô ta trở nên Mark Weston.

Cái trường hợp của cô Weston và cô Joubkowa ấy không còn là lạ lùng về mặt khoa học nữa. Khoa thẩm mĩ giải phẫu (chirurgie esthétique) hiện thời ở thế, thay giống người dễ dàng lắm. Chúng ta dư biết rằng trên thế gian có nhiều người trời sanh ra lạ kỳ, bán nam bán nữ. Nhờ khoa nói trên, các vị thông thái tùy theo hình trạng của mỗi người mà mổ xẻ họ, làm cho họ hoặc trở nên đàn bà, hoặc trở nên đàn ông. Kẻ viết bài nầy tiếc vì không phải là một nhà y học, có thể cắt nghĩa rõ ràng những sự lạ kỳ ấy. Chỉ xin nhắc lại rằng sở dĩ các nhà khoa học đã làm cho cô Lili bỏ lốt đàn ông mà làm đàn bà, và cô Joubkowa cùng cô Weston đàn bà làm đàn ông được là nhờ sự thay đổi tự nhiên trước một phần rồi. Nhà khoa học chỉ làm cho hoàn toàn sự thay đổi thiên nhiên mà thôi. Dầu có vậy đi nữa cũng là một việc lại đáng cho chúng ta chủ ý.

                                                                  BÁ PHỦ

                                          (Thế Giới Tân Văn, số 2 ngày 16-7-1936)

Nữ hóa nam.

Từ khi có sự thay đổi lạ lùng của nhà nữ thể thao trứ danh nước Tiệp Khắc (Tchécoslovaquie) tên Kdenek- Konbek tới nay, những sự thay đổi hình dạng ấy càng ngày càng thấy thêm nhiều. Thì mới đây, một nhà nữ vô địch Anh tên Louis Weston vừa rồi hóa thành đàn ông mà trong số báo trước chúng tôi đã có bài tường thuật rồi (xem Thế giới số 2), nhưng chẳng riêng gì cô ấy, hiện thời người ta quả quyết rằng còn 25 người đàn bà trong xứ đương “bị” sự thay đổi ấy.

Bên xứ Hung Gia Lợi, một cô gái tên Jolan Kun bỗng nhiên thành đàn ông, lẽ tự nhiên là cô phải khai bộ đời khác mà trước nhứt là khai tuổi cô Kun thì chỉ 27 tuổi, mà cậu Kun có đến 37.

                                                  Thế Giới Tân Văn số . . .

TỔ TÔNG LOÀI NGƯỜI Ở ĐÂU ?

Theo Sáng Thế Ký của Mô-i-sơ (Moïse) thì tổ tông loài người là ông Adam và bà Eve, do Đức Chúa Trời Jéhova sanh ra ở trong một cảnh vườn tại Lạc Thổ Eden. Mà Eden ở đâu ? Không ai biết cả. Nhưng trong cuốn Prasada ou Poëmes des Poëmes, bên Thiên Trước có thuật chuyện Đức Thượng Đế Brahma sanh hóa Tổ tông loài người.

Tôi lấy đại ý dịch ra đây cho các bạn xem !

“Mặt đất đầy những cỏ hoa, cây hoằng những trái, cả ngàn cầm thú chạy giỡn trong đồng và bay luyện trên không; những bạch tượng đi dạo chơi thong thả dưới bóng những rừng rộng lớn; Đức Thượng Đế Brahma biết ngày giờ sanh hóa con người đã đến đặng cho ở cảnh thần tiên nầy. Ngài bèn lấy trong Đại linh hồn một sanh mạng cho vào cái xác làm ra hai người “Nam và Nữ” đặng sanh hóa như cây cỏ và thú vật. Ngài cho chúng nó lời nói và ý thức. Nhờ vậy chúng nó cao hơn những loài vật của Ngài đã tạo ra, nhưng thấp hơn Ngài và các Thiên thần. Ngài làm cho người đàn ông phân biệt bởi sức lực, vóc vác và oai nghi. Ngài đặt tên là A-đi-ma (Adima) tiếng Bắc Phạn là người thứ nhứt hay là đứng đầu các sanh vật. Còn ngừoi đàn bà thì có duyên, dịu dàng và đẹp đẽ, Ngài đặt tên là Hê-hoa (Heva) tiếng Bắc Phạn nghĩa là giúp cho sự sanh tồn được viên mãn. Đức Thượng Đế mới cho hai vợ chồng ở tại cù lao Tích Lan, khi cây cỏ tốt tươi đáng gọi là cõi Thiên Đường tại thế; bây giờ đây nó cũng còn là cù lao đẹp nhứt ở Ấn độ dương.

Ngài mới phán với hai vợ chồng: “Hãy ăn ở với nhau và sanh sản con cái. Chúng nó là những hình ảnh sống của hai người trên mặt đất từ thế kỉ nầy qua thế kỉ kia, sau khi hai người trở về với Ta.

Ta là Chúa tể vạn vật, Ta sanh hai người đặng phụng thờ Ta trọn đời và những kẻ nào tin nơi Ta sẽ được sang sớt hạnh phúc của Ta, sau khi vạn vật bị tiêu diệt. Hãy dạy dỗ con cái hai ngươi, điều đó chúng nó chớ khá quên Ta, ngày nào Ta còn tên Ta thì Ta vẫn ở với chúng nó”. Rồi thì Ngài cấm A-đi-ma và Hê-hoa không được rời bỏ cù lao Tích Lan. Và Ngài nói tiếp: “Nhiệm vụ của hai người là ở sanh sản tại cù lao nầy và truyền dạy sự thờ phụng Ta cho những kẻ sanh ra. Nơi đây Ta đã lo cho hai ngươi đủ các điều phương tiện và vui vẻ. Ngoại trừ sau con cháu hai ngươi đông đúc cho đến đỗi chỗ nầy không đủ chứa chúng nó nữa thì trong lúc cúng tế chúng nó sẽ hỏi Ta, Ta sẽ cho biết ý định của Ta”. Nói rồi Ngài biến mất.

A-đi-ma và Hê-hoa ở đó một ít lâu được hoàn toàn sung sướng, không có sự đau khổ nào tới khuấy rối sự an tịnh của hai người. Hai vợ chồng chỉ có giơ tay lên cây thì hái những trái ngon ngọt và chỉ cúi xuống thì lượm những hột lúa tốt và mịn màng. Nhưng mà một ngày kia hai vợ chồng bắt đầu lo ngại chuyện viễn vông. Ấy là Ma-vương ghen ghét sự hạnh phúc của hai vợ chồng và công nghiệp của Đấng Tạo Hóa, cho nên xúi giục hai vợ chồng có những ý muốn mới lạ.

A-đi-ma mới nói với vợ: “Chúng ta hãy đi dạo trong Cù lao và coi thử chỗ nào đẹp hơn chốn nầy không ?” Hê-hoa bèn theo chồng. Hai vợ chồng mới đi, ngày nầy qua ngày kia, tháng nầy qua tháng nọ và ngừng lại dựa mé những suối nước trong trẻo và dưới bóng những cây cao lớn tàn che khuất ánh sáng mặt trời. Nhưng càng ngày càng đi tới thì Hê-Hoa trong lòng phát hoảng sợ một cách lạ lùng.

Hê-hoa mới nói: “A-đi-ma, chúng ta đừng đi xa nữa, dường như chúng ta đã cãi lời Đức Thượng Đế rồi, không phải là chúng ta đã bỏ chỗ Ngài đã định cho chúng ta ở hay sao ?”.

A-đi-ma đáp rằng : “Đừng sợ. Không phải là chỗ đất gớm ghiết chưa ở được mà Ngài đã nói với chúng ta đâu”. Rồi cả hai đi nữa. Sau rốt hai vợ chồng đi tới mút cù lao Tích Lan. Cả hai thấy trước mặt có một cái eo biển không mấy lớn, còn bên kia thì đất rộng mêng mông dường như chạy dài vô tận. Những đá ở dưới biển nổi lên làm ra một cái đường hẹp nối liền cù lao và lục địa mới lạ đó. Hai vợ chồng dừng chơn lại, lấy làm lạ lùng hết sức. Miền đó đầy những cây cao lớn, chim chóc cánh lông rực rỡ, bay liện trên nhành.

A-đi-ma mới nói: “Ồ ! Những điều đẹp quá. Trái cây đó phải ngon biết dường nào ! Chúng ta hãy qua hái ăn thử coi và nếu xứ đó tốt hơn chỗ ta, thì chúng ta ở  luôn tại đó”. Hê-hoa run rẩy lập cập, năn nỉ A-đi-ma, đừng làm điều gì mà chọc giận Đức Thượng Đế. Nàng nói: “Chúng ta ở chỗ nầy không phải là tốt rồi hay sao ? Chúng ta có nước ngọt, trái ngon, còn kiếm cái gì nữa”. A-đi-ma mới đáp: “À ! Vậy thì chúng ta sẽ trở về. Mà đi viếng xứ lạ có hại gì đâu ?”. Nói rồi đi lại gần mấy cục đá. Hê-hoa theo chồng mà run rẩy. A-đi-ma mới vác vợ lên vai rồi đi qua eo biển. Chơn mới vừa đụng đất thì nghe có tiếng nổ vang dầy. Cây cối, bông hoa, chim chóc thấy khi nãy đều biến đi đâu mất. Mấy cục đá nổi lên đều trầm xuống biển, chỉ còn vài cục nhọn ló khỏi mặt nước để làm dấu tích cái đường mà trong cơn thạnh nộ, Đức Thượng Đế đã ra oai tàn phá.

A-đi-ma bèn té xỉu xuống cát, khóc mướt. Hê-hoa mới lại ôm chàng mà nói: “Chàng chớ sầu thảm. Hãy cầu nguyện Đức Thượng Đế tha tội cho chúng ta”. Nói vừa dứt lời thì nghe trên mây có tiếng phán rằng: “Hỡi người nữ kia ! Ngươi nói như thế là vì thương chồng, mà ta đã dạy ngươi phải thương chồng ngươi. Ngươi trông mong nơi Ta. Vậy Ta tha tội cho ngươi và chồng ngươi. Nhưng mà hai ngươi không được về chỗ Cực lạc mà Ta đã tạo lập ra đặng hai ngươi hưởng hạnh phúc nữa. Bởi hai ngươi cãi mạng lịnh của Ta, cho nên hung thần đã gieo tai nạn cả mặt đất. Con cái hai ngươi phải chịu đau khổ, chúng nó phải cày cấy ruộng nương tại vì lỗi của hai ngươi. Chúng nó sẽ trở nên xấu xa và sẽ quên Ta. Nhưng Ta sẽ sai Quích-nu (Vishnou) đầu thai vào lòng một người đàn bà và đem cho cả thảy cái hy vọng được ban thưởng một kiếp sau và phương pháp cầu khẩn Ta, đặng giảm bớt những tai họa của chúng nó. Hai vợ chồng nguôi ngoai,

 bèn đứng dậy; từ đó hai người phải chịu khổ cực mới có đồ ăn”.

Những cục đá nổi lên ở Ấn độ dương, chính giữa phía đông Ấn Độ và cù lao Tích Lan ngày nay người bổn xứ cũng còn gọi là Palam Adima, nghĩa là “Cái Cầu” của Adam (Pont d’Adam).

Khi những thương thuyền sang Tàu hay là Ấn Độ qua khỏi Maldives rồi thì thấy trước hết trên bờ biển xứ Ấn Độ một cái núi xanh um, trên chót thường bị mây bao phủ. Tục truyền rằng, từ dưới chơn núi đó người đầu tiên đi qua đất liền. Từ xưa núi đó gọi là Pic d’Adam, mà hiện giờ trong địa dư cũng gọi như thế.

Đọc bài nầy rồi các bạn thấy nó khác với chuyện của Mô-i-sơ thuật trong Sáng Thế Ký. Theo Mô-i-sơ thì bà Eva bị quỉ cám dỗ ăn trái cấm. Còn trong chuyện trên đây trái lại A-đi-ma bị ảo thuật của Ma vương nên cãi lời Đức Thượng Đế Brahma. Vậy các bạn muốn bình luận cách nào cũng được. Người học đạo thì biết đó là những lời nói bóng dáng, song không phải dễ mà cắt nghĩa cho thiên hạ đều hiểu như mình vậy.

 PHỤ LỤC

1. – Chuyện Lý Thanh Vân sống 256 tuổi.

2. – Chuyện cô bé Kumari Shanti Devi kiếp trước ở Mutha thác rồi tái sanh tại Delhi.

3. – Một chuyện nhớ lại những kiếp trước rất lạ lùng.

Tôi gặp ba chuyện nầy sau khi đã giao bản thảo cuốn Luân Hồi cho nhà in sắp chữ. Vì thế tôi để chúng nó vào những trương phụ thêm. Đợi khi tái bản bộ “Con người là ai” tôi sẽ sắp chúng nó lại cho phải chỗ.

 

I.Chuyện ông Lý Thanh Vân sống 256 tuổi

Trong cuốn “Con người thác rồi về đâu” trương 9 tôi có nói ông Lý Thanh Vân sống 256 tuổi.

Tài liệu đó tôi lấy trong cuốn “HATHA YOGA của C.KERNEIZ trương 54”.

Nay nhơn có dịp đọc báo “Phụ nữ tân tiến” số 21 ngày 1er Juin 1933 thấy có trích đăng tin ấy do báo Trung Bắc Tân Văn dịch thuật của báo Siêu Nhiên rất rõ ràng, nên đem vào cuốn nầy cho các bạn xem.

                                                  Phụ nữ TânTiến

                                                  Số 21-1erJuin 1933

 

Chuyện bên Tàu

Ông Bành Tổ đời nay. Một người tên là Lý Thanh Vân sống lâu đến 256 tuổi.

Chuyện ông Bành Tổ chẳng biết thiệt hay không. Nhưng cứ tục truyền thì là một ông đời xưa kia sống lâu lắm.

Chẳng nói đến chuyện sống lâu bằng ổng chớ sống được 100 tuổi cũng đã khó lắm rồi. Nên bên Á Đông cho: “Nhơn sanh bách tuế vi kỳ”.

Ngờ đâu, ngày nay lại thấy cái tin rất lạ: là một người sống có đến hơn 2 thế kỷ rưởi. Các báo đều đăng tin ấy, và thấy Trung Bắc Tân Văn có dịch thuật rõ ràng, cái tin ấy của báo Siêu Nhiên, chúng tôi xin mượn cái tin của đồng nghiệp để độc giả xem qua cho vui.

Ông Lý thanh Vân sanh về đời Khang Hy, có một người vợ chết đã một thế kỷ, có cháu bốn đời đã 70 tuổi.

Câu chuyện ông già thọ nhứt thế giới nầy, trong tờ báo đã có mấy lần nói đến, các báo Tàu sang kỳ vừa rồi tin rằng ông già đã tạ thế ở huyện Khai về tỉnh Tứ Xuyên.

Về tuổi thọ của ông già Lý Thanh Vân, mỗi người nói một khác, nhưng cứ như người đã biết rõ thân thế ông thì đều nói ông năm nay quả đã thọ 256 tuổi. Ông già Lý vốn là người làm ruộng kiêm làm nghề vào núi hái thuốc. Từ lúc ít tuổi, sau khi lấy vợ, vợ chết, lại lấy vợ khác, không biết đã mấy lần rồi, mà người vợ ông lấy cuối cùng đã tạ thế hơn 100 năm nay. Hiện ông có 70 người cháu, người chắc bé nhứt của ông năm nay cũng đã 70 tuổi. Ba năm trước đây cũng có nhiều viên ký giả các báo đến tận nơi thăm ông, thấy ông thể phách còn khỏe, như ông già mới độ 6 – 70 tuổi. Khi ấy ông già Lý có nói chuyện với các viên ký giả rằng ông khéo việc dưỡng sinh, mỗi khi vào núi hái thuốc ngày đi hơn trăm dặm mà không biết mệt nhọc. Trong lúc thiếu niên có một lần vào núi hái thuốc bỗng hái được một thứ cỏ lạ [11], bèn ăn cho đỡ đói, nay ông hưởng được cái tuổi cao ấy, hoặc có vì thế chăng ?

Lại một tờ báo Tàu năm Dân Quốc 17 có đăng sơ lược về ông như sau nầy:

Có người quê ở Chính An, tên là Lý Thanh Vân ngụ ở Trần gia trường, huyện Khai, tỉnh Tứ Xuyên người ta nói đã thọ hơn 200 tuổi, tháng trước đến Vạn huyện được các giới hoan nghênh, viên quận trưởng là Dương Sâm cũng có quỉ tặng. Hỏi tuổi thực thì ông ấy nói sanh năm Mậu Ngọ, năm Khang Hy thứ 17, năm nay vừa 249 tuổi. Ông già Lý diện mạo nom rất cổ, tinh thần rất tinh sảng, ngũ quan đều tốt cả, những móng tay của ông cắt ra chứa đầy một cái hòm, hiện tay hữu, ngón giữa, ngón thứ tư và ngón thứ năm móng để dài tới hơn thước. Mỗi ngày đi được hơn trăm dặm, hỏi đạo dưỡng sinh thế nào, ông chỉ nói tỉnh tâm mà thôi, hỏi làm sao ông biết thuật ấy được, thì ông nói, cách ngồi như con rùa, đi như con hạc, nằm như con chó, đều là điều cốt của ông thầy truyền cho. Ông già Lý lại nói lúc mới vài tuổi có từng đọc sách viết chữ, khi độ 10 tuổi có người dắt đi các nơi Thiểm Tây, Tân Cương, Cam Túc, Thanh Hải, Tây Tạng. Việt Nam, Xiêm La, để hái thuốc, khi trở về Tứ Xuyên đến Trần gia trường đã hơn 100 tuổi rồi. Sau đó ông lại đi đến các tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, Hồ Nam. Hán Khẩu, Nam Kinh, Bắc Kinh vẫn lấy nghề bán thuốc mưu sinh. Sinh bình trước sau ông lấy 14 đời vợ, con cháu trải đến 11 đời. Cứ lời những ông già Trần gia trường nói kể từ khi ông Lý đến đó cho tới nay diện mạo tinh thần vẫn như thế, không thay đổi, người ta hỏi chuyện về các đời nhà Thanh và phong tục các nơi ông đều kể vanh vách. Ông già Lý lại nói còn có mấy người bạn lại nhiều tuổi hơn ông.

(Trích dịch báo “Siêu Nhiên”).

II.Chuyện cô Kumari Shanti Devi kiếp trước ở Muttra thác rồi tái sanh tại Delhi

 Chuyện nầy làm chấn động dư luận thế giới vì nó có quan hệ với triết lý của cuộc đời.

Dưới đây là bài điều tra kỹ lưỡng của ba ông: Lala Deshbandhu Gupta chủ nhiệm báo The Daily Tej, nhà lãnh tụ ái quốc Pandit Neki Pram Sharma và trạng sư Chand Mathur, gởi cho báo chí.

“Shanti tới bốn tuổi cũng như đứa câm, không nói. Qua bốn tuổi rồi nó bắt đầu nói những việc mà dường như là cái kết quả sự nhớ lại chuyện kiếp trước do sự liên tưởng mà ra. Tỉ như người ta cho nó ăn thì nó nói: “Tôi ăn bánh nào đó tại nhà tôi ở Muttra”. Khi mẹ nó mặc quần áo cho nó thì nó tả cách nó mặc hồi kiếp trước tại Muttra. Nó thường nói: “Nó thuộc về hạn Choban và chồng nó là người buôn bán vải. Nó cho thêm những chi tiết về cái nhà của nó, nó nói nhà nó sơn màu vàng và kế cận thì có nhiều tiệm đặc biệt”. Ban sơ cha mẹ nó tưởng mấy lời lạ lùng nầy vốn là chuyện nhảm nhí của trẻ con, nên không để ý tới. Nhưng nó lập lại mãi. Cha mẹ nó không muốn khươi chuyện ấy ra vì theo tục lệ Ấn Độ, đứa nhỏ nào nhớ chuyện kiếp trước thì thường không sống được lâu, nếu mấy chuyện ấy có thật. Cô bé Shanti thường tỏ ý muốn đi Muttra. Những người lân cận đều rõ biết việc đó.

 Những câu trả lời chắc chắn

Cho tới hai năm chót đây, cô bé không tỏ thật tên chồng nó ra (chồng kiếp trước). Khi cha mẹ nó hỏi nó thì nó trả lời một cách rụt rè rằng: nó gặp thì nó biết. Ấy là do tục lệ bên Thiên Trước, ai cũng biết người đàn bà vì khiêm tốn nên không hề nói tên chồng mình.

Cách một năm rưởi nay, một ngày kia ông cậu của nó là ông Bishan Chand, giáo sư trường Ramjasschool, Darya Ganj, Delhi, tới thăm nó và biểu nó nói tên chồng kiếp trước của nó và quả quyết: nếu nó nói thì dắt nó đi Muttra. Con bé bèn nói nhỏ bên tai Ngài: ấy là Pundit Kedar Nath Chaubey. Ông giáo sư hứa để điều tra trước khi dắt nó đi. Lâu lâu thì nó hỏi thăm tin tức sự tìm kiếm đó, nhưng mà ông giáo sư đồng ý với cha mẹ nó, nên để câu chuyện đâu nằm đó, không muốn tìm hỏi cái nhà hồi kiếp trước.

Trong bữa lễ Dushera, ông giáo sư thuật câu chuyện nầy cho ông Lala Kishau Chand M.A. vốn là hiệu trưởng đã hồi hưu ở số 7 đường Darya Ganj, tại Delhi nghe chơi. Ông nầy tỏ ý muốn biết đứa nhỏ. Trong cuộc gặp gỡ với ông hiệu trưởng, cô bé mới cho địa chỉ của “Kedar Nath” và tả hình trạng cái nhà của nó.

Ông Lala Kishau Chand ghi vào sổ địa chỉ của cô bé nói và viết một cái thơ cho Pandit Kedar Nath. Ngài và nhiều người khác rất ngạc nhiên khi được thơ của Chaubey Kedar Nath trả lời rằng những việc đó có thật. Trong thơ Kedar Nath lại đại khái ngõ ý rằng va có một người bà con tên Pundit Kanji Mal, làm trong sở ông Bhana Mal Gulzari tại Delhi và xin cho người nầy giáp mặt với cô bé. Người ta chịu. Chẳng những cô bé nhận được Kanji Mal là bà con còn nhỏ tuổi của chồng kiếp trước cô và cô trả lời rất trúng những câu hỏi về việc kín nhiệm trong gia đình. Sự lạ lùng càng tăng thêm; Kanji Mal bèn kêu anh là Kedar Nath Chaubey từ Muttra đi qua Delhi.

 Những dấu chứng cô bé nhớ chuyện kiếp trước

Pandit Kedar Nath Chaubey đi với đứa con trai 10 tuổi và người vợ sau, tới Delhi ngày 13 Novembre 1935. Mới vừa gặp thì cô bé nhận ra Kedar Nath Chaubey là chồng trước của mình. Thấy chồng và con, cô bèn khóc tấm tức tấm tưởi trọn một giờ đồng hồ. Kedar Nath Chaubey được phép hỏi cô bé vài câu chuyện thầm kín trong gia đình đặng thử coi ký ức của cô bé thế nào ? Những câu trả lời của cô bé đều trúng hết làm cho Kedar Nath động lòng sa nước mắt. Khi người ta hỏi ý kiến của ổng thì ổng đáp rằng: “Tôi quả quyết ấy cũng một linh hồn vợ trước tôi, thác tại Muttra ngày nay đầu thai làm cô bé”.

Cô bé dòm con Chaubey và tỏ dấu thương yêu như tình mẹ con. Cô mới xin mẹ ruột của cô bây giờ cho đứa nhỏ vài món đồ chơi, mà cô nóng nảy cho đến đỗi không đợi bà mẹ chọn lựa, cô lấy xâu chìa khóa đi mở cửa phòng lấy cho đứa nhỏ một món đồ chơi và một bộ bài cào.

Khi Kedar Nath và đứa con trai muốn ra khỏi nhà thì cô bé xin cho cô đi theo. Người ta tưởng tốt hơn là kêu xe cho cả thảy lên đi để tránh sự a ý có thể xảy ra.

Sau khi đi dạo chơi rồi, cô bé trở về, nó nắm tay đứa con nó, theo sau là cha ruột nó và Kedar Nath. Buổi chiều đó nó rất vui vẻ. Theo lời nó xin, Kedar Nath và đứa con trai ở lại Delhi hai ngày nữa, va có nhiều dịp coi chừng cử chỉ của cô bé.

Chiều bữa 15 Novembre 1935 Kedar Nath và đứa con trai phải về Muttra. Khi cô bé hay tin đó thì muốn đi theo, mà cha mẹ cô không bằng lòng. Muốn cho cô quên, người ta mới dắt cô lên xe đi chơi và đi coi hát bóng.

Nhưng cô bé một mực quyết đi Muttra, và từ khi gặp chồng cô tới sau thì cô càng nài nỉ hơn nữa. Cô cứ nói quả quyết rằng nếu người ta dắt cô đi Muttra thì cô biết nhà chồng cô liền.

Cô bé nói cô có chôn giấu tiền bạc

Cô bé tả rành mạch tôn miếu Vishrant Gat ở Dwarkadhish, những đường dắt đi tới nhà chồng cô, cũng như cô đã sống và ở tại đó. Cô bé lại nói thêm rằng: cô có chôn giấu tiền ở dưới đất trong một căn phố ở nhà cô tại Muttra và cô có nguyện cúng 100 rubi (roupies) trong số đó cho tôn miếu Vishrant Ghat. Cô có nói chuyện đó cho Kedar Nath Chaubey hồi ông nầy lại Delhi.

Cha mẹ cô bé và bà con cô, giữ phong tục xưa nên không chịu mạo hiểm cho cô đi. Nhưng chúng tôi giải bày cho cha mẹ cô bé nghe, sau rốt lại ông bà bằng lòng, rồi chúng tôi cả thảy 15 người, kể luôn ổng bả nữa, đồng đi Muttra ngày 25 Novembre 1935. Chúng tôi đem theo một người nhiếp ảnh đặng chụp những ảnh cần thiết. Khi đứa bé bước lên xe lửa rồi thì chúng tôi xem xét từ cử chỉ của nó và ghi chép kỹ lưỡng. Lúc cô bé lên xe ngồi rồi thì chúng tôi thấy gương mặt nó tỏ vẻ hân hoan, khác hơn ngày thường trọn ba giờ đồng hồ của cuộc hành trình. Xe gần tới Muttra, sự vui mừng của nó lộ ra . . . Nó nói rằng: Giờ chúng ta tới (nghĩa là 11 giờ sớm mai) thì tôn miếu Vishrant Gat đã đóng cửa. Những tiếng nói của nó nói là: “Mandir ko pat band ho jayenge” thường dùng ở Muttra. Khi chúng tôi gần tới ga thì cô bé bỗng trở lại nghiêm nghị dường như hoàn cảnh phản động lại nó.

Nó dòm ra cửa sổ xem coi cả thảy một cách rất kỹ lưỡng, khi xe vô nhà ga thì cô la lên: “Muttra Agai ! Muttra Agai ! (Tới Mutra rồi ! Tới Muttra rồi). Dường như người ta hay chúng tôi tới Muttra cho nên có nhiều người và cả những thân hào tại đó, tới chực ở bến xe. Nhưng mà những lối đi chúng tôi đã vạch sẵn rồi. Chúng tôi khuyên những người trong bọn họ đứng dang ra xa chúng tôi đặng để chúng tôi đi với cô bé. Thiên hạ nghe theo lời yêu cầu của chúng tôi cũng làm in như vậy, để chúng tôi đi thong thả. Và nên nhìn nhận rằng về phương diện đó người ta vẫn giúp sức chúng tôi.

Chuyện lạ lùng

Khi tới Muttra rồi, việc thình lình làm cho chúng tôi chủ ý tới, xảy ra tại bến xe.

Ông L. Deshbandhu bồng cô bé. Ông đi chưa được 15 bước bỗng có một người trộng tuổi ăn mặc theo cách riêng biệt ở thành thị, chen lộn với đám đông tới đứng trước mặt cô bé. Người ta hỏi cô bé biết ông đó không ?

Cô bé chưa gặp ông lần nào nhưng khi thấy ổng nó liền tuột xuống cúi hôn chơn ông đó một cách kính cẩn rồi đứng dựa một bên. Người ta hỏi ông đó là ai, thì cô bé kê miệng vô lổ tai ông Lala Deshbandhu nói nhỏ rằng: ấy là “Jeth” của cô. Jeth là anh cả của người chồng cổ. Việc đó thình lình làm cho ai nấy đều ngạc nhiên vì ông đó quả thật là anh cả của chồng cổ tên “Babu Kam Chaubey”.

Khi ra khỏi bến xe, chúng tôi lựa riêng một cỗ xe, không dùng những xe của mấy người đánh xe đem mời chúng tôi. Cô bé ngồi băng trước, và xe chúng tôi dẫn đầu mấy xe kia. Chúng tôi đã đủ cách đề phòng không cho những người đi bộ chỉ đường. Chúng tôi căn dặn người đánh xe đi theo đường của cô bé chỉ, không cần phải biết chúng tôi đi đâu. Cô bé dẫn chúng tôi đi ngang qua Holi Gate không khó khăn chút nào. Cô bé dùng chỗ đó như chỗ nhắm để từ bến xe vô nhà cô. Chúng tôi có hỏi tên nhiều nhà và nhiều con đường: cô bé đều trả lời trúng hết. Thí dụ cô nói: hồi cô còn sanh tiền đường nhà ga chưa tráng nhựa, cô chỉ nhiều dãy nhà mới và nói: Hồi đó chưa cất. Cô tả Holi Gate một cách đúng đắn trước khi chúng tôi tới đó. Cô bé cứ chỉ đường cho tới khi chúng tôi tới đầu một con đường đầy những tiệm tạp hóa. Cô bảo xe ngừng và chỉ một con đường đặc biệt dắt vô nhà cũ của cô. Để xe đó, chúng tôi xuống đi bộ theo cô Shanti.

Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên một lần nữa khi cô bé thấy một ông già 75 tuổi, cô cúi đầu chào rất lễ phép, hôn chơn ông và nói ấy là cha chồng cô.

 Cô bé chỉ nhà

Cử chỉ tự nhiên của cô làm cho nhiều người đi coi lấy làm cảm động lắm. Cách xa đó một chút cô bé chỉ nhà của cô dẩu rằng bây giờ nó không phải sơn màu vàng và dãy nhà đó người khác đã mướn. Người ta đem cổ vô, có hai vị thân hào ở tại Muttra chú ý tới sự điều tra của chúng tôi nên đi theo chúng tôi. Cô bé mới chỉ cái phòng của cô thường ở. Muốn thử cổ, một vị thân hào mới hỏi cổ có thế chỉ cái “Jai Zarur” của cái nhà không ? Đối với dân chúng tại Delhi, tiếng Jai Zarur là tiếng hê brơ (hébreu) nghĩa là cầu tiêu.

Các người có mặt tại đó đều lấy làm ngạc nhiên khi cô bé nghe hỏi, không suy nghĩ xuống thang lầu chỉ cầu tiêu cho vị thân hào coi, dường như trong nhà chỗ nào cô cũng biết cả.

Muốn tránh công chúng và muốn được đeo đuổi cuộc điều tra của chúng tôi trong bầu không khí yên lặng. Chúng tôi mới dắt cô bé lại một Dharamshala. Tại đó cổ nhìn được người em của cô năm nay đã 25 tuổi và một người cậu bà con suôi gia. Một việc làm cho chúng tôi chú ý một cách đặc biệt là cô bé ở Muttra coi rất thơ thới. Thấy chúng tôi ăn chẫm rãi, cô bé mới nhắc cô phải đi tới một cái nhà khác, chỗ cổ đã giấu tiền. Chúng tôi mới dắt cổ qua một con đường hẻo lánh đặng tránh sự tọc mạch của dân chúng.

Dọc đường chỉ là cổ dẫn chúng tôi và cổ nhìn được cái nhà của cô một cách dễ dàng. Cổ nói, cổ đã ở trong nhà đó hơn nửa đời người, mà nhà đó hiện giờ gia quyến của Pandit Kedar Nath còn ở đó nữa.

Những tấn tuồng diễn ra sau khi chúng tôi vô nhà nầy phá tan hết thảy các mối hoài nghi về sự chơn thật của câu chuyện nầy. Cô bé vô nhà nầy cũng như lúc cổ còn làm chủ. Pandit Neki Ram biểu cô nói cái giếng mà cổ nói hôm cổ ở Delhi cho ông coi.

Cô bé chạy ra cái sân nhỏ ở trong nhà nhưng cổ lính quýnh khi không thấy cái giếng ở đâu, song cổ chắc ý lắm, cổ lấy tay chỉ vào một góc sân và nói: “Kuan Yiham tha” (cái giếng ở đó). Chừng Kedar Nath Chaubey lấy cục đá lấp ở miệng bày cái giếng ra, thì cổ tỏ dấu hân hoan vì người ta đã bít miệng giếng mấy năm rồi.

Khi người ta hỏi tiền chôn ở đâu thì cổ bảo chúng tôi theo cổ lên từng lầu trên. Điều đó lạ thật vì không có ai tưởng tượng rằng của đem chôn ở trên lầu được. Nhưng cổ quả quyết lắm, cổ dắt chúng tôi lại phòng cửa sổ, phòng nầy bây giờ khóa chặt. Người ta xin Chaubey mở ra. Nhưng phải chờ đi lấy chìa khóa. Cô bé nóng nảy dòm vô kẽ vách nói rằng phòng đó của cổ và tiền ở trỏng. Khi vô phòng rồi cô bé dòm quanh một vòng rồi lấy chơn để trên một góc mà nói: “Tiền ở đây”. Chaubey Kedar Nath ngần ngại một chập, chúng tôi không hiểu vì lẽ nào, nhưng phải chìu lòng cô bé. Người ta đào chỗ đó lên lối 3 tấc thì gặp một ga la (galla) (một chỗ theo tục đời xưa để giấu một vật quí) nhưng không có tiền, cô bé không chịu số tiền đó mất, cổ tự bươi đống đất lên, trong vài phút nhưng thất vọng khi không thấy chi cả. Cô cứ nói: “Tiền tôi để đó”. Về sau, chúng tôi hay rằng Kedar Chaubey đào lấy số tiền đó khi cô từ trần (kiếp trước).

Khi chúng tôi định từ giả nhà đó đặng đi lại rạch Jumna thì cô bé vụt nói quần áo của cổ bận đi tắm để ở trong phòng dưới đất. Cô rất buồn bực mà ra khỏi nhà xưa.

Nhưng còn một chuyện làm chúng tôi ngạc nhiên hơn nữa

Hồi ở Delhi cô không nhớ cha mẹ cô kiếp trước. Chừng chúng tôi dắt lại nhà cha mẹ cũ của cô ở một con đường gần Muttra, thì cô nhìn được nhà và vô nhận được cha mẹ cô, cô đứng chung trong đám đông năm chục người. Cô ôm cha mẹ cô, còn ổng bả thấy cô bé thì khóc than thảm thiết.

Còn chúng tôi, mỗi người đều tưởng rằng: quên chuyện kiếp trước là một hạnh phúc rất lớn. Chúng tôi thú thật, chúng tôi mang một trách nhiệm nặng nề khi cô bé về Muttra. Chúng tôi phải bắt cô bé lìa cha mẹ cổ (cha mẹ kiếp trước) và chúng tôi bỏ chốn đó đi liền không tìm kiếm thêm những bằng cớ khác nữa. Cô bé lên xe đi lại tôn miếu Dwarkadisk. Khi cô thấy tôn miếu thì cô reo lên những tiếng vui mừng. Cổ quì trước cửa như kính cẩn tôn trọng một vị thần thánh nào. Chuyện chót mà cô bé đã nhìn biết tại Muttra là Vishrant Ghat trên con rạch linh thiêng Jumna. Cổ nói hồi kiếp trước, cổ thường tắm ở nơi đó. Khi tới Ghat cổ năn nỉ xin múc nước rạch cho cổ uống rồi tự nhiên cổ thấy bông ở trong tràng hoa của cổ mang đem cúng. Cô muốn ở lại chốn đó lâu một chút nhưng không thế được.

Lối mười ngàn người hội họp lại trong miếng đất của một trường trung đẳng tại chỗ đó, trong đám ấy có mặt những người đã chứng kiến cuộc điều tra của chúng tôi. Chúng tôi mới thuật lại những điều đã xảy ra mà chúng tôi đã thấy với cô bé. Dân chúng Muttra ngỏ ý muốn cho cô bé ở lại vài ngày nữa, nhưng chúng tôi không thế làm vừa lòng họ vì những lẽ đương nhiên mà chúng tôi mới kể ra trên đây.

Chiều lại, lúc trở về Delhi, cô bé mỏi mệt nằm ngủ, không nói chi hết, đáng lẽ người ta phải để cô bé ở lâu hơn nữa tại Muttra.

Phỏng dịch tờ phúc trình của hội Liên Minh quốc tế da trắng ở Delhi.

(Rapport de la ligue internationale Aryene de Delhi)

III.Một chuyện nhớ lại những kiếp trước rất lạ lùng

Từ sáu tháng nay, tại Turin (một thành ở nước Ý) những y sĩ chữa bịnh thần kinh, những nhà sử học, những nhà khảo cổ, những nhà chuyên môn về khoa khuyết sử thời đại tự hỏi: Có phải các ngài bị một tên đại bợm phờ phĩnh hay là đứng trước một hiện tượng mà vì trình độ hiện thời, khoa học không cắt nghĩa được.

Ấy là trường hợp của một người tên Lanfranco Davito. Va nhớ lại đã sống sáu lần trong những thế kỷ đã qua. Về mỗi kiếp luân hồi va cho những chi tiết và những sự đích thật đem so sánh với sự hiểu biết của những nhà chuyên môn về mấy thời đại đó thì giống hệt nhau.

(Davito, lính cảnh sát số 556 tại Turin). Người ta dựng lên hai thuyết:

a) Hoặc là tên lính số 556 là một người có tánh đùa cợt phi thường, học hỏi uyên thâm về các khoa: khuyết sử thời đại, sơ sử thời đại và cổ đại sử, một ông Pic de la Mirandole [12], vì mua vui nên mang áo cảnh sát thành phố.

b) Hoặc là hội bác sĩ đứng trước trường hợp của một người đã sống nhiều lần trên quả địa cầu chúng ta và nhớ lại rõ ràng những kiếp trước của va.

Trước hết Lanfranco Davito là ai ?

Đối với mấy ông chủ va và những bạn đồng nghiệp của va thì Lanfranco Davito là tên lính số 556, chớ không có ai khác hơn nữa. Va ở một căn phố nhỏ số 240 đường Via Fossata, nhà không có tủ sách, sống một cách yên ổn, vợ tên Lina. Và làm việc bổn phận đúng đắn, không có ai trách va về sự ngông cuồng lần nào cả.

Đối với các vị Bác sĩ chữa bịnh thần kinh thì Lanfranco là một người tầm thường, không có bịnh hoạn, không có thói dị kỳ, ăn nói thật thà chất phác, tỏ dấu là một người bực trung. Còn đối với những vị học thức uyên thâm thì va là một người chứng kiến lạ lùng đời tối cổ, hồi các đô thị xây trên mặt hồ (cité lacuste) hoặc từng sống hồi đời vua Sennachérilbe[13]. Những giai đoạn mà va thuật về cách sanh hoạt của xã hội trải qua trong các thời kỳ liên tiếp của lịch sử, không những phù hợp với những điều mà các nhà bác sĩ đã biết mà lại còn chứa đầy những sự đích thật, mấy việc nầy không thể nào bịa đặt ra được, nói rằng va tưởng tượng ra là vô lý hết sức.

Mà làm sao Lanfranco nhớ lại cái quá khứ quái dị ấy ? Theo va thì việc đó đã xảy ra dễ ợt. Một ngày kia trong năm 1939 va đi qua quãng trường Carducci tại Turin (Place de Carducci) bỗng va gặp một người sắc nâu lợt mà gương mặt không phải lạ với va. Va gặp y hồi nào ? Va tìm kiếm trong trí nhớ thì bỗng một tia sáng hiện ra trong não va. Va thấy một cảnh tượng phi thường, lúc ban đầu làm cho va tự hoài nghi mình không được tỉnh trí. Va thấy rằng người sắc nâu lợt cầm một cái chày vồ đập vào đầu va một cái hết sức mạnh. Thất sắc, mồ hôi trán nhỏ giọt. Lanfranco tên lính số 556 hồi tưởng lại hồi sáu ngàn năm trước, tấn bi kịch đã diễn ra sau khi đó va bỏ mình lần thứ nhứt. Một dọc hình từ chỗ tối tăm trong ký ức của va vụt hiện ra rõ ràng dường như anh chàng sắc nâu mà va gặp tại quãng trường Carducci đã phanh phui ra một cách bí mật, làm cho va phải hãi hùng.

Vốn tánh thực thà, Lanfranco phải chống chỏi với cơn ác mộng của va lâu lắm; va không dám tỏ nỗi niềm tâm sự cho ai biết. Nhưng mà những hình ảnh hiện ra càng ngày càng rõ ràng, càng chắc chắn và càng đầy đủ. Trước hết va thấy va sống ở bờ hồ trong một cái chòi, va câu cá và chiến đấu với bọn khỉ. Nhưng kiếp đó va bị một người lạ, không phải ở một bộ lạc với va, tức là chàng sắc nâu mà va mới gặp đó, liểu kết bằng một cú chày vồ.

Kiếp kế đó va thấy va sống hồi đời vua Sennachérilbe. Va chịu gian nan, khổ cực trên mấy con đường ở Chaldée và va có ra trận mạc ở Judée nữa. Qua kiếp thứ tư va đầu thai ở Tiểu Á Tế Á (Asie mineure) vân vân …

Được cái kỹ năng lạ lùng nầy, Lanfranco lấy làm sợ sệt, song va vượt qua được tánh nhút nhát tự nhiên của va, va bèn hỏi thăm một bác sĩ chữa bịnh thần kinh về trường hợp của va. Y sĩ bảo va thuật lại đầu đuôi rồi ngài mới mời mấy nhà sử học, những nhà thông thái chuyên môn khảo cứu về cổ tích nước Á-thuật (Assyrie) lại chứng kiến. Mấy vị nầy lại chất vấn Lanfranco cả trăm câu. Lanfranco đều trả lời trúng cho đến đỗi các nhà thông thái đều sững sốt.

Bây giờ đây, Lanfranco tên lính số 556 là một hiện tượng mà các nhà thông thái nhìn với cặp mắt vừa lạ lùng vừa nghi kỵ.

Anh đó là người gì mà đã sống 6 lần rồi ?

Mà Lanfranco trong khi canh gác sự thông thương trên quãng trường nhà ga “La Gare” cũng bâng khuâng mà tự hỏi: Ừ ! Tôi là ai đây ?

Nhưng vợ va, cô Lina kết luận:

Miễn điều đó giúp ở nhà tôi lên chức đội.

                                                  Phỏng dịch theo báo La Presse số 202

                                                          Ngày 26 septembre 1949

Lời bàn.

Đọc hai bài nầy rồi lấy công tâm xét đoán thì thấy sự Luân hồi là chuyện thật một trăm phần trăm. Những việc siêu hình mà muốn có bằng cớ như những chuyện hữu hình, điều đó không thế nào được. Dầu tin, dầu không, con người cũng không sửa đổi máy tạo được. Dầu muốn, dầu không, con người cũng không thoát khỏi bốn cái khổ: sanh, lão, bịnh, tử; một khi thác rồi, chẳng sớm thì muộn cũng phải luân hồi. Mà tin có Luân hồi có ích lợi chi không ? Sự ích lợi kể không cùng. Có ai nghĩ rằng nếu các giống dân tộc trên địa cầu đều tin quả quyết: sự Luân hồi như chắc hai với hai là bốn thì cuộc diện thế giới sẽ sửa đổi cách ăn thói ở hằng ngày; cách cư xử của nhơn quần xã hội sẽ đầy những vẻ thân ái do trong thâm tâm mà ra chớ không phải ở đầu môi chót lưỡi. Những sự đau khổ mà ta thấy trước mắt hằng ngày sẽ lần lần tiêu diệt, vì một khi người ta biết rằng: gieo giống chi gặt giống nấy và kiếp nầy là kết quả kiếp trước, thì ít ai dám gieo giống săn cỏ hay là tiêu ớt bao giờ. Chừng đó không cầu khẩn, không van vái, cõi trần gian cũng sẽ biến thành Cực lạc thế giới.

 

HẾT

CHÚ THÍCH


[10] Gặp năm nhuần 2 tháng hai thì nhằm ngày rằm tháng ba, theo dương lịch thì rằm tháng năm (mois de Mai).

[11] Trong cuốn Cái Phách trương 12 nơi đoạn “Sanh lực theo thuốc men và đồ ăn” tôi có nói: Trong rừng Thiên Trước và Hi mã lạp sơn có cây Trường Thọ. Nhơn đọc bài nầy, thấy bên Trung Hoa cũng có nói một thứ cỏ một loại với cây Trường Thọ. Chắc chắn là ông Lý Thanh Vân nhờ ăn nó mà sống được tới 256 tuổi. Nếu tôi không lầm, thì trong truyện Thần Tiên gọi thứ cỏ đó là cỏ Linh Chi.

Trong Trời đất còn biết bao nhiêu sự bí mật mà con người chưa khám phá nổi, nhưng một khi con người xứng đáng hiểu được Cơ Trời thì tùy theo tài đức, Thiên Đình sẽ lần lượt vén màn vô minh lên.

[12] Xem lại chỗ các vị thần đồng.

[13] Vua Sennachérilbe cai trị xứ Á-thuật (Assyrie) từ năm 705 tới 681 trước Chúa giáng sanh.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: