TSP's Weblog

Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ

LUÂN HỒI – Chương thứ tư

Posted by Thái Trịnh on 20/06/2011

CHƯƠNG THỨ TƯ 

NHỮNG NGÔI TINH TÚ

Ban đêm thanh tịnh, ta dòm lên trời thấy hằng hà sa số những đốm sáng. Ấy là những ngôi tinh tú, tục gọi là những ngôi sao. Trong mấy ngôi sao nầy, có cái nháy mà cũng có cái không nháy. Cái nào nháy là mặt trời, hay là định tinh, cái nào không nháy là trái đất hay là hành tinh. Những hành tinh thì xây chung quanh định tinh.

Lấy con mắt phàm mà xem thì ta không phân biệt được ngôi sao nào lớn, ngôi sao nào nhỏ, ngôi nầy cách ngôi kia bao xa và vị trí của mỗi ngôi. Nhưng nhờ viễn vọng kính mà ngày nay các nhà thiên văn biết được có nhiều tinh cầu lớn hơn ngôi mặt trời soi sáng chúng ta, mà cũng có nhiều tinh cầu khác nhỏ hơn.

Những ngôi tinh cầu lớn hơn mặt trời soi sáng chúng ta

Bề trực kính của ngôi mặt trời soi sáng chúng ta được chừng 1.391.000 cây số ngàn, bằng 109 lần bề trực kính trái đất. Những tinh cầu Hercule bề trực kính 400 lần lớn hơn bề trực kính của mặt trời chúng ta. Tinh cầu Mira Ceti lớn hơn 300 lần, tinh cầu Pégase,140 lần, tinh cầu Arcturus và Aldébaran 27 và 38 lần.

Những tinh cầu nhỏ hơn mặt trời soi sáng chúng ta

Trái lại, có những tinh cầu mà người ta gọi là “les naines” nghĩa là kém hơn bực trung, nhỏ hơn mặt trời chúng ta. Hiện thời ta biết được ba ngôi sao bề trực kính không tới 50.000 cây số, và một ngôi khác chỉ có 10.000 cây số, còn nhỏ hơn trái đất mình nữa.

Những Thái Dương Hệ

Hết thảy những ngôi tinh tú trên không trung đều sắp đặt có hệ thống: một ngôi mặt trời ở chính giữa và những hành tinh xây chung quanh làm ra một Thái Dương Hệ (Système solaire). Sự sắp đặt khéo léo nầy phải là một sự tình cờ chăng? Không. Khoa Pháp môn dạy rằng mỗi Thái Dương Hệ đều có một Đấng Chí Tôn sanh ra, xin gọi Ngài là Đức Thái Dương Thượng Đế (Logos d’un système solaire). Hào quang của Ngài tới đâu dứt, chỗ đó là giới hạn Thái Dương Hệ của Ngài.

Ông Trời hay là Thái Cực Thánh Hoàng

Còn Đấng Chí Tôn sanh hóa hết thảy các Đức Thái Dương Thượng Đế, người ta gọi là Ông Trời, Đấng Tạo Hóa hay là Thái Cực Thánh Hoàng. Đạo Thiên Chúa gọi là Đức Chúa Trời; đạo Bà la môn gọi là Brahma; đạo Hồi Hồi gọi là Allah, đạo những người Bạt si (Parsis) thờ lửa gọi là Ahura Madza . . .  còn nhiều tiếng khác nữa như Ishvara, Logos Cosmique, vân vân. Ấy là Đấng không sanh mà có, Pháp lực vô biên, Toàn năng, Toàn thiện, trí con người không tưởng tượng nổi.

Ba ngôi của Đấng Tạo Hóa

Khoa Triết học bí truyền dạy: khi Đấng Tạo công muốn sanh hóa vũ trụ thì Ngài chia làm ba ngôi.

Ngôi thứ nhứt.– Brahma hay là Đức Chúa Cha , Đức Thượng Đế hay là Thái Cực Thánh Hoàng, Dieu le Père.

Ngôi thứ nhì.– Đức Chúa Con, Vishnou, Dieu le Fils.

Ngôi thứ ba.– Đức Chúa Thánh Thần, Shiva, Dieu le Saint Esprit.

Giúp vào công việc của Ngài thì có bảy Hiện Thân của Ngài, ấy là bảy vị Đại La Thiên Đế (7 Logos planétaires cosmiques). Hết thảy tinh tú trong vũ trụ đều thuộc về dưới quyền cai trị của bảy vị Đại La Thiên Đế nầy.

Mỗi vị thống lãnh cả trăm triệu Thái Dương Hệ.

Thái Dương Hệ của chúng ta

Notre système solaire.

Thái Dương Hệ của ta do Đức Thái Dương Thượng Đế, cha lành của chúng ta sanh ra. Nó có 10 dãy hành tinh (Chaînes planétaires). Mỗi dãy có bảy bầu. Song có ba dãy không thấy được, bởi vì không có đất cát và ở trên mấy cảnh cao. Lấy theo tên của hành tinh có đất cát thì 7 dãy nầy là:

Dãy Kim tinh (Chaîne de Vénus)

Dãy Mộc tinh (Chaîne de Jupiter)

Dãy Thủy Vương tinh (Chaîne de Neptune)

Dãy Hỏa tinh (Chaîne de Vulcain)

Dãy Thổ tinh (Chaîne de Saturne)

Dãy Trái đất (Chaîne de la Terre)

Dãy Thiên Vương tinh (Chaîne d’Uranus)

Xin xem tấm bản dưới đây thì biết mỗi dãy có mấy bầu hành tinh có đất cát.

DÃY TRÁI ĐẤT HIỆN THỜI

 Dãy Trái đất hiện thời là dãy thứ tư.

Dãy thứ nhứt, dãy thứ nhì, dãy thứ ba tan rã đã lâu. Nhưng dãy thứ ba còn để lại một di tích là mặt trăng. Mặt trăng bây giờ là một bầu hành tinh khô khan, chờ ngày tan rã. Xin các bạn chú ý tới điều nầy.

Hễ nhơn vật qua ở bầu hành tinh nào thì xác thân phải in như thể chất của bầu hành tinh đó.

Thí dụ: Trái đất mình ở đây làm bằng chất đặc, cho nên mình mới có thân xác nầy. Khi nhơn vật qua bầu thứ sáu thì thân hình phải làm chất Thanh khí, vì bầu thứ sáu làm bằng Thanh khí, chớ không phải chất đặc như ba bầu: Hỏa tinh (Mars), Trái đất và Thủy tinh (Mercure). Theo luật Nội Cảnh Tuần Huờn (Ronde Inférieur) hiện thời trên bầu Hỏa tinh và Thủy tinh còn một số nhơn vật ở đó, song họ khác hơn người mình.

MỘT HỆ THỐNG TIẾN HOÁ

BẢY DÃY HÀNH TINH

 Mỗi dãy hành tinh của Thái Dương Hệ chúng ta gồm bảy bầu hành tinh
và sanh hóa bảy lần.

Hình số 1 là dãy thứ nhứt

Hình số 2 là dãy thứ nhì, vân vân…

Muốn biết mỗi bầu hành tinh làm bằng chất khí nào xin xem những
hình nhỏ ở trong, tức là chú giải.

Dãy thứ nhứt in như dãy thứ bảy.

Dãy thứ nhì in như dãy thứ sáu.

Dãy thứ ba in như dãy thứ năm.

Dãy thứ năm ở chính giữa cũng như vạch nối.

Số thứ tự

Tên những dãy hành tinh

Số hành tinh có đất cát

1

Dãy Kim tinh

1 bầu

2

Dãy Mộc tinh

1 bầu

3

Dãy Thủy Vương tinh

3 bầu

4

Dãy Hỏa tinh

1 bầu

5

Dãy Thổ tinh

1 bầu

6

Dãy Trái đất

3 bầu

7

Dãy Thiên Vương tinh

1 bầu

DÃY TRÁI ĐẤT

 Ba bầu hành tinh có đất cát của Dãy Trái đất mình là:

Bầu thứ ba = Hỏa tinh (Mars)

Bầu thứ tư = Trái đất mình (terre)

Bầu thứ năm = Thủy tinh (Mercure)

Còn bốn bầu kia: bầu thứ nhứt, bầu thứ bảy làm bằng chất Thượng thanh khí thấp (matière mentale inférieure), bầu thứ nhì và bầu thứ sáu làm bằng chất Thanh khí (matière astrale) cho nên không thấy được.

 Những loài trên thế gian

Trên dãy Trái đất nầy có 7 loài:

Tính chất thứ nhứt (1er règne élémental)

Tinh chất thứ nhì (2 e règne élémental)

Tinh chất thứ ba (3e règne élémental)

Sắt đá                (règne minéral)

Cây cỏ                (règne végétal)

Cầm thú              (règne animal)

Con người            (règne humain)

 Bảy cuộc tuần huờn (Les 7 rondes) và sự biến đổi hình dạng.

 Mỗi bầu hành tinh đều có một bài học cho mỗi loài. Vì vậy cho nên 7 loài phải ở trên mỗi hành tinh trong một thời gian theo Thiên ý đã định đặng học hỏi và kinh nghiệm. Thời kỳ nầy là Période mondiale xin tạm dịch là một vận hành phù thế. Lúc khởi đầu thì ở bầu thứ nhứt rồi đúng ngày giờ thì bỏ bầu thứ nhứt, nghỉ ngơi một lúc mới qua bầu thứ nhì. Cứ làm như vậy cho tới bầu thứ bảy. Đi giáp một vòng 7 bầu thì gọi là hết một cuộc tuần huờn (une ronde) các loài đều tiến lên một bực và nghỉ ngơi một lúc dài hơn lúc bỏ một bầu hành tinh. Hết lúc nghỉ ngơi thì tới lúc làm việc lại. Bảy loài cũng khởi sự lại tại bầu thứ nhứt rồi đi khắp hết bảy bầu như trước. Ấy là hết cuộc tuần huờn thứ nhì.

Phải đi 7 lần như vậy. Hết 7 cuộc tuần huờn thì có sự thay hình đổi dạng. Theo phép thì Tinh chất thứ nhứt đầu thai qua Tinh chất thứ nhì; Tinh chất thứ nhì đổi ra Tinh chất thứ ba; Tinh chất thứ ba thành ra sắt đá. Sắt đá thành cây cỏ. Cây cỏ thành thú vật. Thú vật thành con người hay là tinh tú thuộc về hạng Thiên Thần. Con người thành Tiên Thánh. Song sự tiến hóa không đồng bực với nhau bởi vì trong mỗi loài đều có những phần tử siêng năng và những phần tử biếng nhác. Lấy gương những học trò trong một lớp thì biết. Trò nào chủ ý và chăm học thì tự nhiên phải giỏi hơn những trò ham chơi bời, không chịu nghe lời thầy giảng dạy và cuối năm được lên lớp trên; còn mấy trò kia bị ở lại lớp cũ một năm nữa.

Đời tức là cái trường học lớn, mỗi người trong nhơn loại là mỗi tên học trò. Tùy theo sự học hỏi, sự hành động và sự kinh nghiệm của mình mà con người định số phận mình kiếp nầy và kiếp sau.

Chi nên hết cuộc tuần huờn thứ 7 trong mỗi loài đều có một số bị bỏ lại, không được đi đầu thai qua loài kế đó.

 Tại sao phải có sự thay hình đổi dạng ?

Bởi vì linh hồn thuộc về tinh thần, còn xác thân thuộc về vật chất. Tinh thần và vật chất vẫn đi đôi với nhau luôn luôn. Không có tinh thần thì vật chất phải chết, còn không có vật chất thì tinh thần không phát hiện ra được. Tinh thần và vật chất phải nương cậy lẫn nhau. Hễ tinh thần tiến hóa thì vật chất phải tiến hóa. Hình dạng nào mà chịu không nổi với sự phát triển của tinh thần thì bị tinh thần thảy bỏ đặng lấy hình dạng khác tốt đẹp hơn và cân xứng hơn. Vì thế luôn luôn có sự thay hình đổi dạng. Sự Luân hồi của con người cũng do lẽ trên đây mà ra. Hiểu được điều nầy thì không còn gớm ghê sự chết nữa mà biết chẳng có thế nào con người đầu thai có một kiếp mà trở  nên trọn lành được.

Hồn khóm

Trừ ra loài người có hồn riêng cho mỗi xác thân, thì loài cầm thú, loài thảo mộc, loài kim thạch đều có hồn khóm (âme groupe). Giống thú nào một loại với nhau, tỷ như loài chó, dầu chó rừng hay chó nhà khắp thế gian đều có một hồn khóm chung mà thôi. Hồn khóm không khác nào một bồn nước, còn hồn của mỗi con thú là một gáo nước múc trong đó ra. Khi con thú chết rồi, hồn nó trở về nhập với hồn khóm, đem sự kinh nghiệm của nó phân phát đều đủ cho các phần tử.

 Những thú đặng đầu thai làm người

Nhưng lâu đời, hồn khóm cũng như tế bào, chia ra những khóm nhỏ. Bởi vậy cũng là loài thú ăn thịt, song có hồn khóm nhỏ riêng cho các thứ chó sói, các thứ chồn, các thứ chó nhà, các thứ cọp, các thứ sư tử, các thứ mèo vân vân. Có 7 loài được đi đầu thai làm người mà hiện giờ tôi chỉ biết có 5 loài như: chó, mèo, ngựa, tượng và khỉ (còn 2 loài nữa), còn bao nhiêu thì qua loài tinh tú thuộc về hạng Thiên Thần (Esprit de la nature).

Muốn được thành hình người thì 5 loài mới kể trên đây phải ở chung với con người đặng nhờ sức từ điển và sự dạy dỗ, chúng nó mới trở nên khôn ngoan. Vì vậy chó nhà tiến hóa hơn chó rừng; còn cọp, beo, sư tử thua mèo rất xa. Loài thú trời sanh ra không phải để cho mình ăn thịt hay là giúp việc cho mình mà thôi. Chúng nó đem sức lực và sự khôn ngoan phụng sự mình thì trái lại mình phải giúp chúng nó tiến hóa theo Cơ trời đã định. Nếu người ta chỉ biết dạy con ngựa chạy cho mau đặng đi đua kiếm tiền; tập chó, mèo trở nên hung dữ quỉ quyệt thì là phạm một lỗi rất lớn. Bổn phận chúng ta phải dạy chúng nó trừ tuyệt những tánh rừng rú và mở mang những tình cảm cao thượng như biết thương yêu chủ, biết hy sanh và trung tín vân vân. . .  Ví bằng sai khiến chúng nó làm theo ý muốn quấy quá của mình thì làm hại cho sự tiến hóa của chúng và mắc tội với Trời vậy.

 Khi đầu thai làm người

Con thú nào tiến hóa thật cao rồi thì khi chết nó không trở về hồn khóm của nó nữa, nó tách riêng ra ngoài. Nó phải trải qua một thời kỳ: Không phải người mà cũng không phải thú, bởi vì bề ngoài nó vẫn giữ hình dạng con thú chưa được làm người, song bề trong nó vẫn khác hơn con thú thường nhiều lắm. Nó phải đi đầu thai nhiều lần nữa, đợi tới một ngày kia Chơn Thần cho thần lực xuống biến đổi cái hồn nhỏ của nó ra Thượng Trí, nó mới được đi đầu thai làm người. Tôi nói vắn tắt, bởi vấn đề nầy rất khó cho những người mới học đạo, ngày sau sẽ giải nhiều thêm.

Không bao giờ con người trở lại đầu thai làm thú đâu. Hiểu rõ mấy đoạn trên đây thì không hề tin rằng: Người nào làm hung ác thì kiếp sau đầu thai làm thú vật như thuở nay người ta hiểu lầm. Con thú không có hồn riêng, không có Thượng Trí. Con người muốn đầu thai làm thú vật thì phải bỏ Thượng Trí, dứt dây liên lạc với Chơn Thần, rồi nhập vô hồn khóm lại như xưa.

Điều nầy không hề thực hiện được bao giờ. Có là vài trường hợp, con người nhập vào mình thú vật một ít lâu rồi cũng bỏ thú vật mà đi đầu thai lại người như trước, như tôi đã nói khi nảy. Con người vì không thông luật trời mà phạm tội, thì cái tội đó không kể là tội trọng được. Mấy anh Bàn môn biết Cơ trời rồi mà còn làm ác, tội đó nặng gấp muôn lần tội của những thường nhơn, mà mấy ảnh chưa đi đầu thai làm thú vật, huống hồ người thường còn vô minh. (Xin xem cuốn Nhân Quả) Đọc kinh phải chuyển kinh, chớ đừng để kinh chuyển mình lại, không vậy khó tỏ ngộ lắm.

 Hết cuộc tuần huờn thứ bảy dãy Trái đất nầy ra sao ?

Hết cuộc tuần huờn thứ 7 dãy Trái đất nầy tan rã rồi có dãy hành tinh mới khác sanh ra thế cho nó.

Ấy là dãy hành tinh thứ năm, bởi vì dãy Trái đất mình ở bây giờ đây là dãy thứ tư. Dãy thứ nhứt và dãy thứ nhì tan rã đã lâu, không biết tên chi. Dãy thứ ba gọi là dãy Nguyệt tinh (chaîne lunaire) vì nó để lại di tích là mặt trăng bây giờ đó. Mặt trăng hiện thời là một bầu thế giới khô khan chờ ngày tan rã, không còn loài nào ở trên đó cả. Sự tích Hằng Nga nơi Nguyệt điện xinh đẹp lạ thường, đó chắc là người ta muốn nói về phái nữ của dãy Nguyệt tinh trong cuộc tuần huờn thứ bảy. Thuở đó con người gần thành Tiên thánh, không còn ở dưới quyền sai khiến của thất tình lục dục thì tự nhiên cốt cách phi phàm.

 Bảy loài trên thế gian hồi trước ở đâu ?

Hiểu đoạn trên thì biết rằng 6 loài trên thế gian mình hồi trước ở trên dãy Nguyệt tinh.

1.- Loài người bây giờ, khi xưa vốn là loài thú ở dãy Nguyệt tinh.

2.- Loài thú bây giờ, khi xưa vốn là loài thảo mộc.

3.- Loài thảo mộc bây giờ, khi xưa vốn là loài kim thạch.

4.- Loài kim thạch bây giờ, khi xưa vốn là loài Tinh chất thứ ba.

5.- Loài Tinh chất thứ ba bây giờ, khi xưa vốn là loài Tinh chất thứ nhì.

6.- Loài Tinh chất thứ nhì bây giờ, khi xưa vốn là loài Tinh chất thứ nhứt.

7.- Còn loài Tinh chất thứ nhứt bây giờ, vốn của Đức Thái Dương Thượng Đế mới sanh ra.

 Những loài ở dãy hành tinh thứ năm

Dãy hành tinh thứ năm cũng phải có 7 loài:

1.- Loài thú ở dãy Trái đất mình qua đó đầu thai làm người.

2.- Loài cây cỏ đầu thai làm loài thú vật.

3.- Loài sắt đá làm cây cỏ.

4.- Tinh chất thứ ba làm sắt đá.

5.- Tinh chất thứ nhì làm Tinh chất thứ ba.

6.- Tinh chất thứ nhứt làm Tinh chất thứ nhì.

7.- Đức Thái Dương Thượng Đế sanh thêm Tinh chất thứ nhứt.

 Trái đất mình ở vào cuộc tuần huờn thứ mấy ?

Hiện giờ Trái đất mình ở vào phân nửa cuộc tuần huờn thứ tư (moitié de la 4e ronde) nghĩa là nhơn loại đã đi hết 3 vòng 7 bầu của dãy Trái đất, còn vòng thứ tư nầy mới đi tới bầu Trái đất mình ở đây. Bởi bầu Trái đất mình ở đây là bầu thứ tư ở chính giữa 7 bầu cho nên mới gọi “Nhơn loại ở vào phân nửa cuộc tuần huờn thứ tư”. Nhơn loại và 6 loài kia còn phải qua ở bầu thứ năm là bầu Thủy Tinh (Mercure), bầu thứ sáu E và bầu thứ bảy F mới hết cuộc tuần huờn thứ tư.

 Sự Phán Xét Cuối Cùng

Qua cuộc tuần huờn thứ năm, nhơn loại cũng sẽ bắt đầu đi từ bầu thứ nhứt như trước. Tới phân nửa cuộc tuần huờn thứ năm nghĩa là khi nhơn loại đi tới bầu Trái đất mình ở đây thì có sự Phán Xét Cuối Cùng (Jugement dernier). Trên Thiên đình sẽ xem kỹ lưỡng tánh hạnh mỗi người. Những người nào siêng năng, giỏi giắn, biết tu đức trau mình, lo giúp ích cho muôn loài vạn vật, nói tóm lại là ăn ở theo Đạo Bát Chánh hay có đủ đức tánh kể trong cuốn “Dưới Chơn Thầy” thì được đầu thai luôn cho tới cuộc tuần huờn thứ 7. Còn những người nào chỉ biết lo sung sướng tấm thân, cả đời biếng nhác, ích kỷ hại nhơn, thì sẽ bị ngưng lại, không được đi đầu thai nữa. Linh hồn mấy vị nầy trở về Niết Bàn nghỉ ngơi đợi chừng nào nhơn loại ở dãy thứ năm tiến hóa gần bằng bực của họ, thì họ mới trở xuống nhập bọn đặng đeo đuổi theo sự tiến hóa mà họ đã bỏ dở hồi còn ở dãy thứ tư.

Dân số trên dãy trái đất nầy được bao nhiêu ?

Theo khoa Triết học bí truyền thì dân số trên dãy Địa cầu nầy được 60 ngàn triệu (60 milliards), số nầy không còn thêm hay bớt nữa. Hiện giờ theo bản thống kê các nước thì dân số tổng cộng có hai ngàn triệu [6]. Vậy thì còn 58 ngàn triệu nữa ở đâu ?

Họ còn ở hai cõi Thượng giới và Trung giới, vì đã bỏ xác phàm rồi. Đúng ngày giờ họ sẽ trở xuống Trần đầu thai lại như trước.

 Thái Dương Hệ của chúng ta sanh ra đã bao lâu rồi ?

Thái Dương Hệ của chúng ta sanh ra đã được lối một ngàn chín trăm năm mươi lăm triệu, tám trăm tám mươi bốn ngàn bảy trăm lẻ ba năm (1.955.884.703 ans).

Còn trong cuộc tuần huờn thứ tư nầy, 300 triệu năm đã trải qua trên bầu Trái đất mình đang ở đây.

Hết cuộc tuần huờn thứ bảy có bao nhiêu người thành Tiên Thánh ?

Lấy theo trình độ tiến hóa của nhơn loại bây giờ thì dưới đây là lời phỏng định của Tiên Thánh.

Trong số 60 ngàn triệu thì có lối 24 ngàn triệu bị bỏ lại lúc Phán Xét Cuối Cùng trong cuộc tuần huờn thứ năm. Còn lại 36 ngàn triệu chia ra như sau nầy:

12 ngàn triệu thành Tiên Thánh.

12 ngàn triệu thành La Hán.

12 ngàn triệu vào bực Tu đà huờn, Tư đà hàm và A na hàm, nghĩa là được Điểm đạo từ lần thứ nhứt cho tới lần thứ ba.

Tại sao phải loại ra 24 ngàn triệu ?

Ấy vì lúc đó Tiên Thánh và các Đại Thiên Thần ra ở lẫn lộn với con người. Thần lực trên Thiên đình ban xuống nhiều lắm. Nó có tánh đặc biệt là làm cho các tánh tình dầu xấu dầu tốt đều nảy nở ra lớn thêm. Người hiền sẽ hết sức hiền, người dữ sẽ hết sức dữ. Những người còn tánh gian xảo tham lam thì chừng đó sẽ trở nên cực kỳ hung ác, khuấy rối xã hội không khác nào mụt nhọt ở chơn làm cho cả thân mình nhức nhối. Vậy điều tốt hơn hết cho họ là ở riêng một chỗ, không còn thế phá hại người khác để cho kẻ lương thiện an ổn và tiến hóa cho mau.

 Có thể thành Tiên Thánh trước cuộc tuần huờn thứ bảy

Tiên Thánh là người trọn lành, biết rõ hết những việc xảy ra trên Trái đất nầy một cách châu đáo. Vì vậy một người thường không chịu tu hành phải trải qua muôn kiếp Luân hồi mới trở nên sáng suốt. Trái lại, người nào kiếp nầy ra công khó nhọc ăn ở in như lời các vị Giáo chủ dạy dỗ, thì nội trong 15 năm làm chủ 3 thể: Thân, Ý, Trí được. Rồi 20 năm về sau sẽ thấy những năng lực ở trong mình mở lần lần ra.

Phải tu hành bực trung ba chục kiếp như vậy thì mới đắc Đạo, thành chánh quả. Ba chục kiếp mới nghe qua coi dài và lâu lắm, song đối với thời gian vô cùng vô tận thì nó chỉ là trong nháy mắt mà thôi. Để tôi làm bài toán nầy cho các bạn coi. Thí dụ một vị tu hành nói trên đây sống trên cõi Trần được 72 năm. Bỏ xác phàm rồi đi về cõi Thượng giới ở 2000 năm mới trở xuống đầu thai. Vậy thì một kiếp của va được
2000 năm + 72= 2072 năm. Ba mươi kiếp như vậy được 2072 X 30= 62.160 năm.

Kỳ hạn của một cuộc tuần huờn bao lâu ta không hiểu đặng, song ta biết có cái dài có cái vắn.

Tại Trái đất nầy, tổ tiên giống da trắng sanh ra đã một triệu năm rồi. Thôi bây giờ lấy bực trung mỗi cuộc tuần huờn 196 triệu năm. Còn hai cuộc tuần huờn rưởi nữa, con người mới thành Tiên Thánh thì 196 triệu X 2,5= 490 triệu năm nữa. Trừ số 62.160 năm cho 490 triệu thì thấy người nào tu hành bây giờ thì còn rảnh rang được 489 triệu, 937 ngàn, 840 năm. Trong thời gian nầy tu hành thêm thì tiến hóa cao lắm, bởi vì Tiên Thánh mới là bực thứ nhứt trong hạng siêu phàm. Còn không biết bao nhiêu bực cao hơn nữa, nấc thang tiến hóa vô cùng vô tận, không ai tưởng tượng nổi, chỉ biết một là càng lên cao càng thấy bầu trời rộng minh mông, càng học lại càng thấy mình dốt nát.

 Hãy cứu vớt những người bị bỏ lại

Nhhững người bị bỏ lại không mất đi đâu, họ chỉ bị ngưng sự tiến hóa trong một thời gian tính ra không biết mấy chục hay mấy trăm triệu năm. Trong lúc đó các bạn của họ đã đi xa biệt mù, chẳng có thể nào họ theo kịp nữa. Qua dãy Trái đất thứ năm, họ phải ra công khó nhọc gấp mười lần hơn bây giờ mới được vào hạng siêu phàm nhập thánh. Họ không thể nào trốn tránh đi đâu cho khỏi luật Nhân quả buộc trói họ vào bánh xe Luân hồi. Hiện giờ họ không chịu siêng năng thì tới chừng đó họ cũng phải sốt sắng làm lành. Bây giờ muốn cứu vớt họ thì phải tự mình trau tria tâm trí đặng họ bắt chước gương lành của mình. Khuyên họ có lòng từ thiện phải sẵn lòng thi nhơn bố đức luôn luôn, phải lo học hỏi cho mau thông và rộng lượng khoan dung cho những kẻ lỗi lầm.

Phải hết sức thành thật và sốt sắng. Giải cho họ biết kiếp nầy họ tập được đức tánh nào thì kiếp sau sẽ có đức tánh đó, bởi vì gieo giống nào gặt giống nấy. Nếu phần đông ăn ở được như vậy thì dám chắc tới lúc Phán Xét Cuối Cùng trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ còn lối một phần mười bị bỏ lại mà thôi, nghĩa là chỉ có 6 ngàn triệu không được tiếp tục đi đầu thai thôi chớ không phải 24 ngàn triệu như lời đã phỏng định vì mình đã cứu vớt được 18 ngàn triệu. Vì lẽ nầy, những người tu hành bây giờ là những vị ân nhân của nhơn loại, bởi vì họ dùng những tư tưởng lành đặng cảm hóa con người.

                          (xin xem lại chỗ tư tưởng truyền nhiễm)

 Những giống dân trên dãy Địa cầu

Nhơn loại trên mỗi hành tinh trên dãy Trái đất mình chia ra 7 giống (Races mères). Mỗi giống chia ra 7 nhánh lớn (sous races). Mỗi nhánh lớn chia ra 7 nhánh nhỏ nữa (Branche de sous race). Nhơn loại đi qua bầu hành tinh nào thì xác thân phải làm bằng chất khí của bầu hành tinh đó. Tỉ như Trái đất mình làm bằng đất cát, nên con người mới có xác thịt nầy. Ngày nào nhơn loại qua bầu thứ sáu làm bằng chất Thanh khí thì xác thân cũng phải làm bằng chất Thanh khí vậy v. v. . .

 Giống dân thứ nhứt

Trong cuộc tuần huờn thứ tư nầy, tại Trái đất mình ở đây thì thân thể làm bằng chất tinh khí, hình dáng lạ lùng, có tòng có tụi. Nói rằng loài người, chớ kỳ thật không giống xác thân con người bây giờ chút nào. Chưa biết cảm động và chỉ mở có một quan là “Nghe”.

Họ không có cha mẹ sanh ra; xác thân của họ vốn là những cái Phách của Tiên Thánh khi xưa ở dãy Nguyệt tinh tạo nên. Họ đi được, đứng được, chạy được, cúi xuống được và bay được. Nhưng họ vẫn là cái bóng, nước lửa hại không nổi. Không có nam nữ. Họ sanh sản như loài a míp (amibe) là sanh vật đơn giản nhứt hay là như loài san hô nhỏ (hydre). Ban đầu họ chia thân mình ra làm hai phần bằng nhau, rồi về sau những phần không đều, vì thế con cháu họ hình thù bé nhỏ hơn họ. Không thể nào phân biệt được những nhánh nhóc của giống thứ nhứt nầy cả.

 Giống thứ nhì

Đúng ngày giờ giống thứ nhứt biến đổi ra giống thứ nhì. Sự biến đổi nầy lạ lùng lắm. Các Thiên Thần lấy một chất đặc làm một cái vỏ đắp vào mình giống thứ nhứt đặng làm xác thân giống thứ nhì. Thành thử xác thân giống thứ nhứt thành ra cái Phách của giống thứ nhì. Giống thứ nhì gọi là Kim-bu-rút-sa (Kimpurushas) mở được hai quan “Nghe và động dạng”. Sắc da vàng nhưng có pha từ màu vỏ cam tới màu xanh dợt của trái chanh. Hình dạng thì có tòng có tụi, giống hoặc như thảo mộc, hoặc như thú vật, hoặc hơi giống hình người kêu hú nhau như tiếng sáo.

Cách sanh sản: Nhánh thứ nhứt và nhánh thứ nhì không có nam nữ cũng nứt mình ra như giống thứ nhứt. Nhưng càng ngày vỏ ở ngoài càng cứng, cách sanh sản như trước không được nữa. Đổi ra khác. Ngoài da nổi những cục u nần như giọt mồ hôi, màu trắng đục sết sết rồi lần lần cứng ngắt và lớn thêm. Mỗi cục rớt ra thành một người. Ngày tháng qua, những trẻ mới sanh ra có hai bộ phận sanh dục, âm và dương mới vừa tượng, nghĩa là chúng nó lại cái.

 Giống thứ ba

Giống thứ ba gọi là giống Lê-mu-ri-den (Lémuriens). Ấy là tổ tiên giống da đen bây giờ. Giống mọi Bích-mê (Pydmée) ở Phi châu hiện thời là nhánh nhóc của giống thứ ba còn sót lại.

 Cách sanh sản

Sự sanh sản của giống nầy có thể chia ra làm 3 thời kỳ:

Thời kỳ thứ nhứt.- Cũng nổi những cục u nần, song lần lần trở nên tròn như trứng gà. Nhánh thứ nhứt sanh ra thì thấy hai bộ phận sanh dục âm và dương mới tượng. Nhánh thứ nhì sanh ra thì giống hình người và thấy rõ ràng lại cái.

Thời kỳ thứ nhì.Nhánh thứ ba thành trọn vẹn nguyên hình lại cái ở trong trứng. Đứa nhỏ cũng như gà con khảy mỏ rồi thì ra ngoài, đi và chạy được. Lần lần một bộ phận âm hay dương lấn bộ kia. Nhánh thứ tư cũng ở trong trứng, chừng sanh ra rồi thì phân biệt Nam hay Nữ liền. Tới khi nhánh thứ tư gần tàn, đứa nhỏ trong trứng nở ra thì yếu đuối. Từ ngày phân nam nữ cho tới nay đã 6 triệu rưởi năm rối.

Thời kỳ thứ ba.Tới nhánh thứ năm thì lần lần trứng ở trong mình người mẹ. Đứa nhỏ sanh ra thì bất lực, chỉ biết cựa quậy, la khóc mà thôi. Qua nhánh thứ sáu, thứ bảy thì đứa nhỏ ở trong tử cung người mẹ như bây giờ.

 Giác quan và tiếng nói

Giác quan.Sanh đồng thời với loại thú Mê-ga-lô-sô (Mégalosaure) và Tê-rô-đắc-tinh (Ptérodactyle) cho nên giống thứ ba Lê-mu-ri-den hình thù cao lớn, oai nghi, sức lực mạnh mẽ vô cùng mới chống cự nổi với những loài thú dữ kể trên đây. Sắc da đỏ, song có nhiều màu từ đỏ nâu cho tới xám xanh. Ban sơ có một con mắt ở chính giữa trán, sau hai con mắt sanh ra ở hai bên, con mắt ở chính giữa thụt vô trong thành ra hạch trán hay là tùng quả tuyến (glande pinéale). Người ta gọi giống một con mắt nầy là giống Si-lốp (cyclopes).

Tiếng nói.Nhánh thứ nhứt và nhánh thứ nhì, khi yêu thương, đau khổ, buồn bực, thì chỉ biết hét la vì tiếng nói của họ gồm những nguyên âm. Tới nhánh thứ ba thì tiếng nói trở thành độc âm. Lúc đó trên địa cầu các dân tộc chỉ nói có một thứ tiếng (duy nhứt).

 Sự văn minh

Có một điều mà người ta tưởng lầm là các giống dân tộc ban đầu thì dã man rồi sau lần hồi mới văn minh tiến bộ. Sự thật thì trái hẵn. Mỗi khi giống dân tộc nào mới sanh ra thì luôn luôn có những vị thánh nhơn xuống đầu thai đặng dạy dỗ đạo đức và mở mang trí hóa về đủ các phương diện. Như giống thứ ba nhờ sự chỉ huy của các vị Tiên Thánh ra đời làm vua, nên xây được nhiều thành trì rộng lớn, cất được những đạo viện hùng vĩ, để những di tích mà ngày nay mà người ta gọi là của giống Si-lốp (cyclopes).

Họ dùng những tấm đá khổng lồ xây tường, tới đời bây giờ chưa có một vị kỷ sư nào tìm được thế nhúc nhích nổi. Hiện giờ còn những tấm đá lớn động tới thì lúc lắc mãi người ta gọi là Pierres branlantes. Đó là một vấn đề mà khoa học đời nay chưa giải quyết được. Người ta có biết đâu những tấm đá đó là những phương thế để giao thông giữa hai cõi: Tiên cảnh và Hồng trần hồi giống dân thứ ba. Cũng như cái ghế để xây ma, hễ tấm đá gõ mấy tiếng thì là dấu hiệu gì đó, không khác nào cái máy điện báo Mọt sơ (Morse) bây giờ vậy.

Giống thứ tư

Giống thứ tư là giống Ắt lăng (Atlante) tổ tiên giống da vàng, da đỏ bây giờ. Giống nầy mới thiệt là giống người ta.

 Bảy nhánh của giống thứ tư

Bảy nhánh của giống thứ tư là:

10.- Nhánh thứ nhứt là giống Rmoahal (Mô-a-hal) chăn nuôi súc vật di cư dưới quyền của các vị Thánh Đế.

20.- Nhánh thứ nhì giống Tlavatli (La-hoát-li) nhờ Tiên Thánh dắt dẫn, nên rất văn minh song ưa chuộng hòa bình.

30 .- Nhánh thứ ba là nhánh Toltec (Tôn-téc). Trong 7 nhánh duy có nhánh thứ ba đáng cho ta chú ý hơn hết. Hình thù vậm vỡ, cao lớn, bực trung tám thước bề cao, da thịt cứng hơn đá. Nếu lấy một miếng sắt hay thép của mình dùng đời nay đập vào mình họ thì miếng sắt sẽ cong hay là gãy lìa. Gươm đao của chúng ta dùng bây giờ chém họ không phủng đâu. Lại có một điều đặc biệt là mấy vết thương kéo da non lẹ làng. Nhờ Tiên Thánh dạy dỗ cho nên giống Tôn-téc cực điểm văn minh, thế kỷ 20 nầy có chỗ vẫn chưa sánh kịp. Khoa học, văn chương, mỹ thuật tiến bộ lạ thường. Thuở đó người ta biết dùng phi thoàn (aéronef) bên đạo đức gọi là Qui-ma-na (Vimana) tung mây lướt gió. Không phải dùng dầu xăng như bây giờ, song dùng một cái lực gọi là Vrill lấy ở trong tinh khí (éther), Tàu dịch là dĩ thái. Họ cũng dùng phi thoàn tấn công nhau. Cũng có những trận không chiến dữ dội. Khi ra trận họ trút hơi độc xuống trên đầu kẻ nghịch làm cho cả ngàn quân lính chết ngột và kinh tâm tán đởm, hoặc thả những bôm khi rớt xuống thì nổ lên, văng ra tứ phía những lửa hoặc những miểng làm cho kẻ thì đứt đầu, người thì cụt tay, cụt chơn, lủng ruột, thây nằm chật đất.

Họ biết chế một thứ nước sơn, sơn vô cây thì trở nên dẻo như da thuộc vậy. Họ không cần đào mỏ tìm vàng như bây giờ, họ dùng khoa luyện kim (alchimie) biến đổi loại kim khác ra vàng. Họ không quí trọng vàng, họ chỉ dùng nó để làm đồ chưng diện trong nhà, hoặc những cột nhà, những đền đài và những đạo viện. Họ dùng khoa học đặng mở mang nghề canh nông, chăn nuôi súc vật, sanh sản những giống lúa mới, trồng cây ăn trái, sửa sang đất cát cho trở nên thật tốt, biết lợi dụng những màu sắc giúp sức cho cây cối và thú vật mau lớn, hoặc trừ khử các chứng bịnh do vi trùng sanh ra. Ban đầu thì mọi việc đều tốt đẹp. Các vị đạo sĩ ỷ mình phép tắc cao cường đánh đuổi các đệ tử Tiên Thánh rồi ra cầm quyền trị dân. Họ dùng thần thông làm những chuyện tàn ác trái nghịch lòng trời, nên bị một trận Đại Hồng Thủy quét sạch sự văn minh của giống dân Tôn-téc.

(Xin xem chỗ “Những cuộc tang thương biến đổi châu Át lân tích”)

40 .- Nhánh thứ tư là giống Tu-ra-nhen (Turanien) hung bạo và ưa chiến tranh, nhưng văn minh lắm.

50 .- Nhánh thứ năm là giống Sê-mít (Sémites) có tánh hiếu động. Ấy là tổ tiên giống Do Thái và giống thứ năm là A-ri-den bây giờ.

60 .- Nhánh thứ sáu là giống Ắc-ca-đi-den (Akkadiens) ưa phiêu lưu, di cư qua miền duyên hải Địa Trung Hải sanh ra dân Pélasges, Etrusques, Carthaginois) và Scythes.

70 .- Nhánh thứ bảy là giống Mông Cổ ở Bắc Á châu sanh ra người Trung Hoa ở trung nguyên (chớ không phải người Trung Hoa ở dựa mé biển). Người Ma lai, người Tây Tạng, người Hung Gia Lợi, người Phanh noa (Finnois), người Ết ki mô (Esquimaux) và người Nhựt Bổn là một nhánh của giống Mông Cổ.

 Giống thứ năm

Giống thứ năm là giống A-ri-den (Aryens) sanh ra đã một triệu năm rồi. Ấy là tổ tiên người da trắng bây giờ.

Những nhánh của giống thứ năm:

10.- Nhánh thứ nhứt cũng gọi là giống A-ri-den, thỉ tổ của người Ấn Độ da trắng (Hindous).

20.- Nhánh thứ nhì gọi là A-ri-dô-sê-mê-tích (Aryosémétique) hay là Cal-đê-den (Chaldéenne) di cư qua ở xứ A phú hản (Afghanistan) và Si ri (Syrie).

30.- Nhánh thứ ba gọi là giống Y-ra-nhen (Iranien) qua ở xứ Ba Tư (Perse), A Rập (Arabie) và Ai Cập (Egypte),

40.- Nhánh thứ tư gọi là Sên-tích (Celtique) qua ở xứ Hi Lạp, Ý, Pháp, Iệt lăn (Irlande) Ê cốt (Ecosse).

50.- Nhánh thứ năm là giống Tơ-tông (Teutons) gồm dân Sít căn đi nao (Scandinave) dân A lơ măn (Allemands) Nga, Anh, Mỹ hiện thời.

60.- Nhánh thứ sáu không biết đặt tên chi, đã nảy sanh bên Mỹ châu và Úc châu, Nam Phi châu và nhiều nơi khác. Mình đã thấy sự văn minh của nhánh thứ năm, nhưng nó chưa lên tới chỗ cực điểm đâu. Nhánh thứ sáu còn giỏi hơn nhánh thứ năm nhiều lắm. Mở được trực giác, thần nhãn, giàu lòng bác ái, diệt được tánh ích kỷ chia rẽ, làm việc với tinh thần tổng hợp và thật hiện được câu: “Tứ hải giai huynh đệ”. Nhánh thứ bảy sẽ tiến hóa hơn nhánh thứ sáu. Hết nhánh thứ bảy giống thứ năm sẽ tàn.

 Giống thứ sáu và Giống thứ bảy

Sáu bảy trăm năm nữa, giống thứ sáu sẽ ra đời đặng thế cho giống thứ năm. Cũng có bảy nhánh.

Rồi đúng ngày giờ giống thứ bảy sẽ sanh ra. Khi nhánh thứ bảy của giống thứ bảy điêu tàn rồi thì gọi là hết một cuộc vận hành phù thế (période mondiale). Trái đất sẽ nhỏ lại. Trừ ra một số nhơn vật bị bỏ lại vì chưng bê trễ bổn phận thì các loại đều về cõi Niết Bàn nghỉ ngơi, rồi chờ đúng ngày giờ qua bầu Thủy Tinh (Mercure) đặng tiến hóa thêm nữa.

 Nội cảnh tuần huờn

(Ronde intérieur)

Số nhơn vật bị bỏ lại không có sanh sản thêm nữa, cứ giữ một mực luôn luôn. Họ không được nghỉ ngơi, họ phải đầu thai đi đầu thai lại mãi cho tới cuộc tuần huờn thứ năm nhơn vật trở lại bầu trái đất nầy, họ mới nhập bọn đặng tiến hóa thêm. Trong bảy bầu hiện thời trên bầu nào cũng có một số nhơn vật như vậy cả. Cuộc tuần huờn nầy gọi là Nội Cảnh Tuần Huờn.

Cuộc Nội Cảnh Tuần Huờn rất có ích lợi. Nó giúp cho nhơn vật bê trễ sau theo kịp chúng bạn nếu họ thật rán sức và Tiên Thánh cùng các Thiên Thần khỏi thất công sanh lại một lần nữa thân hình của các loài vật khi mấy loài nầy trở lại ở trên mỗi bầu hành tinh.

 Những điều cần biết về sự sanh hóa và sự Luân hồi các giống dân

Giống thứ nhứt sanh ra giống thứ nhì, giống thứ nhì sanh ra giống thứ ba, giống thứ ba sanh ra giống thứ tư, giống thứ tư sanh ra giống thứ năm, giống thứ năm sanh ra giống thứ sáu, giống thứ sáu sanh ra giống thứ bảy. Mỗi linh hồn phải đầu thai vào mỗi giống; trước ở giống thứ nhứt, hết ở giống thứ nhứt thì qua giống thứ nhì vân vân [7] cho tới giống thứ bảy. Nghĩa là phải đầu thai vào mỗi nhánh của mỗi giống hoặc một lần, hoặc nhiều lần tùy theo bực tiến hóa đặng học hỏi và kinh nghiệm bởi vì mỗi giống dân đều có những bài học riêng cho mỗi linh hồn, chừng học xong rồi mới qua giống dân khác. Không phải đầu thai làm đàn ông mãi hay là đàn bà mãi. Theo phép không đầu thai ít hơn ba lần trong mỗi giống nam hay nữ, hay là nhiều hơn 7 lần, nghĩa là đầu thai làm đàn bà thì trọn luôn ba kiếp, qua kiếp thứ tư mới làm đàn ông; hoặc đầu thai làm đàn ông trọn 7 kiếp thì qua kiếp thứ 8 đầu thai làm đàn bà. Cũng có trường hợp đặc biệt, nhưng trường hợp nầy ít có lắm.

 Những hạng linh hồn đi đầu thai

Những linh hồn đi đầu thai chia làm 5 hạng:

10.- Hạng thứ nhứtCác vị Tiên Thánh, các Ngài không cần đi đầu thai nữa, song muốn lấy xác phàm thì tự ý. Ấy là những vị ở trong Quần Tiên Hội (Xin xem tới sẽ rõ).

20 .- Hạng thứ nhìNhững vị được điểm đạo từ lần thứ nhứt cho tới lần thứ tư, mấy vị nầy thường thường sau khi bỏ xác phàm thì ở cõi Trung giới một ít lâu rồi trở xuống đầu thai, không về Thiên Đường.

30.- Hạng thứ baGồm những vị trí thức.

Hạng nầy chia làm hai bực:

 a/ Bực thứ nhứtĐi đầu thai 2 lần trong mỗi nhánh. Bực trung về cõi Thiên Đường 1.200 năm.

b/ Bực thứ nhìĐi đầu thai hơn 2 lần trong mỗi nhánh. Bực trung về cõi Thiên Đường 700 năm.

40 .- Hạng thứ tưGồm những bực tầm thường.

50.- Hạng thứ nămGồm những người chưa mở mang. Hai hạng nầy phải đầu thai nhiều lần trong mỗi nhánh trước khi qua nhánh kế đó.

 Tại sao tới giống dân thứ ba có sự phân chia nam nữ

Trong cuộc tuần huờn thứ tư nầy có 3 cái đặc điểm khác hơn 3 cuộc tuần huờn trước.

Một là: Có sự sửa đổi những điều kiện của tinh chất. Vấn đề nầy rất khó khăn, sau có dịp sẽ giải.

Hai là: Mở cửa Đạo đặng cho con người bước vào đường Tiên nẻo Phật, đồng thời không cho loài thú đầu thai làm người.

Ba là: Ôn lại những việc làm của 3 cuộc tuần huờn trước tại bầu thứ tư là Trái đất nầy vì nhơn loại đã đi được phân nửa con đường tiến hóa rồi. Hễ giống dân thứ nhứt sanh ra thì ôn lại những việc làm trong cuộc tuần huờn thứ nhứt. Giống dân thứ nhì sanh ra thì ôn lại những việc làm trong cuộc tuần huờn thứ nhì. Tới phân nửa cuộc tuần huờn thứ ba mới có đàn ông và đàn bà thì tới phân nửa giống dân thứ ba mới có phân chia nam nữ. Không vậy thì giống dân thứ nhứt đã có xác thịt như bây giờ rồi.

 Bảy Châu Thế Giới

Khi một giống dân sanh ra thì có một Châu thế giới nổi lên đặng chứa nó. Châu thứ nhứt để chứa giống dân thứ nhứt. Châu thứ nhì để chứa giống dân thứ nhì, vân vân. . . Khi giống dân nào gần tàn thì Châu chứa nó trầm xuống biển, rồi Châu khác nổi lên thế, cứ xây vần như vậy mãi.

Châu thứ nhứt

Châu thứ nhứt tên là Pushkara (Bút-ca-ra). Sách Thánh bên Thiên Trước cũng gọi là “Châu Địa Linh bất diệt” (Terre sacrée impérissable), bởi vì duy có một mình nó tránh khỏi được cuộc thương hải tang điền. Khoảnh đất nổi lên đầu tiên gọi là núi Tu-Di (Pic du Mont Méru).

Châu Địa Linh bất diệt hiện giờ ở tại đầu trái đất

Châu thứ nhì

Châu thứ nhì tên Plaska: Cực Lạc thanh châu (Continent hyperboréen) hình bán nguyệt. Chỗ nó choán ngày nay là Bắc Á Châu, chạy từ cù lao Groenland tới Kamtchatka, gồm cù lao Spitzberg bán đảo Thụy Điển, Na Uy (Suède et Norvège) và luôn cù lao Anh cát lợi (Iles Britanniques). Phía Nam là mênh mông đại hải. Khí hậu nóng nực của miền ôn đới, cỏ hoa tươi tốt, đồng bái xanh um, phong cảnh u nhàn. Di tích của Châu thứ nhì còn lại tới ngày nay là cù lao Groenland, Islande, Spitzberg miền Bắc Na Uy và Thụy Điển.

Châu thứ ba

Dãy Hi mã lạp sơn (Himalaya) đã mọc lên lần lần, dưới Hi mã lạp sơn, phía Nam, thì đại lục nổi lên; hướng Đông phía Tích lan đảo (Ceylan) từ Úc Châu tới Tasmanie và cù lao Pâques; phía Tây tới cù lao Madagascar. Một phần Phi Châu cũng nổi lên. Di tích Châu thứ nhì là Thụy Điển, Na Uy và Tây bá lợi Á cũng dính với đất mới. Cả thảy làm ra Châu thứ ba gọi là Lê-mu-ri (Lémurie) hay là Shalmali.

Những cuộc tang thương

Về sau Châu Lê-mu-ri bị những cuộc địa chấn và những hỏa diệm sơn phun lửa làm cho nứt ra nhiều cù lao, mỗi cái bằng một đại lục bây giờ.

Mấy cù lao đó cũng bị nhiều cuộc tang thương biến đổi, rốt lại 700.000 năm trước chỉ tằng xưa nhứt của đệ tam kỷ (période Eocène de l’Epoque tertiaire).

Châu Lê-mu-ri bị những trận địa chấn do hỏa diệm sơn gây ra nhận chìm xuống biển. Nó để lại vài di tích như là Úc đại lợi (Australie), cù lao Madagascar và cù lao Pâques hiện thời.

Sự biến đổi khí hậu

Từ khi nhánh thứ tư của giống thứ ba sanh ra thì cốt trái đất nghiêng triền. Ở Bắc cực khí hậu nóng nực bỗng biến đổi ra lạnh lẽo vô cùng. Những nhánh nhóc của giống thứ hai còn sót lại, và nhánh thứ nhứt, nhánh thứ nhì của giống thứ ba ở tại đó đều chết sạch. Loài cây cối và loài thú cũng như loài người hình thù trở nên bé nhỏ. – Đời nay các nhà tự nhiên học đều nói rằng: “Trong thời đại Trung Tân Thế” (période Miocène) đảo Groenland và Spitzberg cũng vậy (hai đảo nầy là di tích của Châu thứ nhì) hưởng một khí hậu gần giống như của miền ôn đới. Tại Groenland thuộc về 700 Bắc vĩ tuyến thì dẫy đầy những cây If, Erythroxyle, Séquois (một loại với giống cây ở California) hêtre, platane, saule, chérie, peuplier, noyer và một giống Magnolia và Zamia”.

Châu Lê-mu-ru trên một triệu (1000.000) năm nay.
Châu Ắt-lăn-tích hồi tám trăm ngàn (800.000) năm nay.

“Ils (les Naturalistes) déclarent tous que durant la période miocène, le Groenland et même le Spitzberg, c’est à dire ce qui reste de notre second continent hyberboréen, jouissait d’un climat presque tropical.

Durant la période Miocène, le Groenland (par 700 de latitude Nord) était couvert d’une grande quantité d’arbres tels que l’If, l’erythroxyle, le séquois, (alliés  aux espèces de Californie)  le hêtre, le platane, le saule, le chêne, le peuplier et le noyer de même qu’un genre de Magnolia et de Zamia. (Doctrine secrète 3e volume, page 14).

Châu thứ tư

Châu thứ tư gọi là Châu Ắt lăn tích (Atlantide) chớ tên Thánh là Câu-Xá (Kusha). Nó gồm ba phía:

Bắc, thì Bắc Á Châu, kể luôn Tàu và Nhựt chạy ngang qua biển Thái hình dương tới phía Tây của Bắc Mỹ châu bây giờ.

Phía Nam thì Ấn Độ, cù lao Tích Lan, Diến Điện, bán đảo Mã Lai.

Phía Tây thì nước Ba Tư (Perse) xứ A Rập (Arabie) Si Ri (Syrie) Ap-bít-si-ni (Abyssinie) miền duyên hải của Địa Trung Hải, phía Nam Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha và từ xứ Ê Cốt (Ecosse) Yệt Lăn (Irlande) qua tới Mỹ Châu, choán trọn chỗ mà ngày nay gọi là Đại Tây Dương.

Những cuộc tang thương

Châu Ắt lăn Tích bị nhiều cuộc tang thương biến đổi, tôi chỉ kể hai lần gần đây thôi:

a) 200.000 năm trước, các vị đạo sĩ thuộc về phái “Những người trong bóng tối” tục gọi là “mấy vị Bàn Môn”, dùng tà thuật hãm hại lương dân cho nên Thiên Đình mới phạt họ lần thứ nhứt.

Một trận địa chấn chia Châu Ắt lăn Tích ra hai đảo lớn: một đảo ở phía Bắc gọi là Ru-ta (Routa), một đảo ở phía Nam gọi là Đai-ty-da (Daitya) dính với nhau bởi một eo đất. Mấy vị đạo sĩ đều chết hết.

b) Nhưng chừng đầu thai lại họ cũng không chừa thói cũ. Họ cũng học phép tắc và dùng thần thông làm những chuyện ác nghịch với lòng Trời.

Họ giỏi cho đến đỗi biết cách sanh hóa những con thú biết nói tiếng người để giữ nhà và báo tin cho họ. Họ niệm một câu chơn ngôn thức thì kẻ nghịch hóa ra hình thú vật. Họ ỷ tài không sợ oai Trời, làm những điều tàn nhẫn trọn năm chục ngàn năm như vậy mà không chút chi ăn năn chừa cải.

Đức Ngọc Đế mới nhứt định phạt họ. Ngài ra lịnh cho các đệ tử và các vương hầu còn noi theo Chánh đạo dắt lương thân bỏ châu Ắt lăn Tích mà qua miền Bắc và miền Đông.

Rồi hai ngày sau, lúc nửa đêm, nước triều dâng lên cuồn cuộn, ngập cả thành thị đồng bái; giông tố ầm ầm thổi tới, mưa tuôn xối xả, sóng bủa cao như núi, đất rung rinh rồi nứt ra từng khúc dài, nhà cửa sập đổ, lửa cháy tưng bừng. Núi non văng lên trên không rồi rớt xuống vỡ tan từ mảnh. Tiếng người hoảng hốt khóc than với những tiếng thú kêu la thảm thiết pha lẫn với những tiếng sấm sét vang vầy…

Lúc đó bọn đạo sĩ như thế nào ?

Họ bị phép mầu của Tiên Thánh nên ngủ mê man vì trên Thiên Đình ra lịnh phải cho họ thác một cách êm ái, đừng để họ bị đau đớn, nhưng không cho một người nào thoát khỏi tay tử thần. Bọn thú vật giữ nhà cho họ đều hóa ra câm vì lúc ban ngày chúng uống máu huyết của Tiên Thánh. Bọn Tiểu Thần chờ mạng lịnh của các đạo sĩ đặng đối phó, song mạng lịnh đó không đến vì các đạo sĩ chưa tỉnh giấc nồng. Chừng nước tràn tới nhà họ, họ giựt mình thức dậy thì đã trễ quá rồi. Những phép họ hóa ra đều bị Tiên Thánh phá tan, họ chạy kiếm những phi thoàn của họ đặng trốn đi, nhưng chúng nó đã trễ mất rồi. Thế thì họ phải bó tay mà đền tội.

Than ôi ! Đời oanh liệt xưa kia nay còn đâu. Thương thay ! Các bọn đạo sĩ và mấy chục triệu sanh linh xu quyền phụ thế thuộc về phe đảng của họ đều chôn thân vào bụng cá. Tuy vậy mà còn vài tinh chất nhơn tạo, chạy trốn khỏi và sống tới ngày nay như Thần nữ Kali bên Ấn Độ là một .

Trận Đại Hồng Thủy nầy xảy ra năm 75.025 trước Chúa Giáng Sinh. Nó tẩy uế quả Địa cầu và đem cho những người ham luyện phép tắc mà không lo trau sửa tánh tình một bài học rất đau thương. Bị một trận nầy mà mấy anh trong bóng tối không còn cất đầu nổi nữa. Song tới bây giờ tuy họ không hoành hành được như xưa, họ cũng không ngớt khuấy rối bên Chánh đạo, kiếm thế cản trở công việc của Tiên Thánh lo giúp đời, đặng nhơn loại đừng tiến hóa như Cơ Trời đã định.

Cái kết quả của trận Đại Hồng Thủy mới nói trên đây là hai đảo Ru-ta và Đai-ty-da bị nhận chìm xuống biển và để lại một di tích là cù lao Poséidonis hay Podéidon.

Nhưng năm 9.564 trước Chúa Gáng Sinh cù lao Poséidon cũng bị một trận Đại Hồng Thủy nên nối gót hai đảo kia mà xuống nằm dưới đáy biển Đại Tây Dương.

(Xin xem 4 tấm địa đồ)

Châu thứ năm

Sau cuộc tang thương xảy ra 2.000 năm nay, năm đại lục mới có hình dạng như bây giờ. Năm đại lục ngày nay làm ra Châu thứ năm tên Thánh gọi là Krauncha. Hiện giờ trên Địa cầu nhánh nhóc giống thứ ba là giống da đen và nhánh nhóc giống Ắt Lăn là giống da vàng còn nhiều lắm.

Châu thứ sáu

Vài ngàn năm nữa, Châu thứ sáu sẽ nổi lên tại Thái Bình Dương đặng chứa giống thứ sáu. Bắc Mỹ Châu sẽ sụp xuống biển chỉ còn khoảnh đất phía Tây là California bây giờ. Khoảnh đất nầy sẽ dính với đất mới và thành ra miền Đông của Châu thứ sáu.

Châu thứ bảy

Rồi đúng ngày giờ Châu thứ bảy sẽ nổi lên đặng chứa giống thứ bảy. Cũng như con người, các Châu thế giới đều luân hồi như vậy mãi.

 Quần Tiên Hội và sự cai trị thế gian

Trên mỗi hành tinh đều có các vị Phật, Thánh, Tiên để giúp Đức Thái Dương Thượng Đế coi sóc muôn loài vạn vật làm sao cho các loài nầy tiến tới cho đúng với ngày giờ và khuôn mẫu của Thượng Đế đã định cho chúng nó. Tại trái đất nầy các vị ấy làm ra Quần Tiên Hội mà chủ tể là Đức Ngọc Đế. Dưới đây là Ngôi thứ của các Ngài trong Quần Tiên Hội.

I.- Trên hết là Đức Ngọc Đế (Le Seigneur du Monde) được 9 lần điểm đạo.

II.- Dưới Ngài kế đó là 4 vị Phật được 8 lần điểm đạo.

     Ba vị Độc Giác Phật (Pratyéka Bouddha) thuộc về Cung thứ nhứt.

     Một vị Phật Đạo đức là Đức Thích Ca thuộc về Cung thứ nhì.

III.- Dưới Phật là Tam Thanh được 7 lần điểm đạo.

Đức Bàn Cổ (Manou) coi sự sanh hóa một giống dân.

Đức Chưởng Giáo hay là Đức Bồ Tát (le Boddhisatva) lo về phần đạo đức của một giống dân.

Đức Văn Minh Đại Đế (Maha Chohan) (Seigneur de la Civilisation) coi sóc sự văn minh tiến bộ của dân chúng cho hạp với Cơ Trời.

IV.- Dưới Tam Thanh [8] là những vị Đế Quân (Chohan) được 6 lần điểm đạo. Có 7 vị Đế Quân coi sóc 7 Cung.

Cung thứ nhứt coi về Chánh trị.

Cung thứ nhì coi về Đạo đức và Giáo dục.

Cung thứ ba coi về Thiên văn

Cung thứ tư coi về Mỹ thuật và các nghề nghiệp.

Cung thứ năm coi về các Khoa học.

Cung thứ sáu coi về sự tín ngưỡng Tôn giáo.

Cung thứ bảy coi về khoa Pháp môn Phù thủy.

Mỗi người trên thế gian đều thuộc về một trong bảy Cung và cũng chịu ảnh hưởng 6 Cung kia nữa.

V.- Dưới các Đức Đế Quân là những vị A-sơ-ca (Aseka) Chơn Tiên được 5 lần điểm đạo.

Được điểm đạo 4 lần làm một vị La hán (Arhat).

Được điểm đạo 3 lần làm một vị A na hàm (Anagamin).

Được điểm đạo 2 lần làm một vị Tư đà hàm (Sakridagamin).

Được điểm đạo 1 lần làm một vị Tu đà huờn (Sota Âpanna).

 Muốn điểm đạo lần thứ nhứt phải có những điều kiện nào ?

Muốn được điểm đạo lần thứ nhứt phải có nhiều điều kiện, mà những điều kiện tối cần và đầu tiên là 4 đức tánh sau:

10 – Phân biện.

20 – Dứt bỏ.

30 – Hạnh kiểm tốt.

40 – Lòng Từ ái.

Bốn đức tánh nầy đã giải rành rẽ trong cuốn “Dưới Chơn Thầy”. Ai ăn ở in theo đó thì cửa đạo sẽ mở rộng đặng rước vào. Luật Trời định rằng:

Ai được điểm đạo lần thứ nhứt thì dầu cả trăm kiếp sau lỡ chơn sẩy bước đến đâu, tới sự Phán Xét Cuối Cùng cũng khỏi bị bỏ lại. Tuy là nói vậy chớ sự thật chưa có sự thất bại dài lâu như thế đâu. Muốn được điểm đạo lần thứ nhì thì phải dứt tuyệt 3 điều trở ngại sau nầy:

10 – Phàm nhơn là mộng ảo [9].

20 – Sự nghi ngờ (không tin có luật Luân hồi Quả báo).

30 – Sự tin dị đoan.

Vị Tư đà hàm cũng gọi là người chỉ trở lại một lần nữa, bởi vì nội trong kiếp sau nếu người muốn thì người có thể đi lên hai bực khác mà không cần đầu thai mang lấy cái xác phàm nặng trịu nầy.

Trong khoảng giữa 2 và 3 lần điểm đạo không có dây trở ngài nào phải dứt, song phải biết dùng và mở rộng Thượng trí. Khi được 3 lần điểm đạo thì người đệ tử thành một vị A na hàm. A na hàm nghĩa là không còn trở lại nữa, bởi vì vị A na hàm có thế ở trên cõi vô hình, tu hành thêm làm một vị La hán rồi chứng quả Chơn Tiên, không cần phải có xác thịt nầy. Mà nếu người đi đầu thai là tự ý.

Dây trở ngại thứ tư và thứ năm phải dứt tuyệt trước khi được điểm đạo lần thứ tư là:

40 – Tình ái.

50 – Phiền hà, giận dũi, oán ghét.

Người được điểm đạo lần thứ tư gọi là vị La Hán. Vị La Hán phải dứt 5 dây trở ngại trước khi làm vị A sơ ca. A sơ ca nghĩa là không còn làm đệ tử nữa. Vị A sơ ca thông thạo hết cuộc tiến hóa thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai của dãy hành tinh nầy. Đối với những người còn mắc trong vòng trần tục thì Chơn Sư là Đấng trọn sáng, trọn lành.

Theo luật Trời định thì tới bực A sơ ca mới được phép thâu đệ tử, vì mình độ mình rồi, mình mới độ người khác được.

Vị La Hán tuy đã 4 lần điểm đạo chớ chưa được phép làm Sư phụ, chỉ được làm một vị Sư huynh để dìu dắt mấy em còn thơ trên đường đạo đức mà thôi. Năm dây trở ngại chót đó là:

60 – Ý muốn sống trong những cõi hữu hình.

70 – Ý muốn sống trong những cõi không có hình dạng.

80 – Sự kiêu căng.

90 – Cái trí xao động.

100 – Vô minh.

Điểm đạo lần thứ nhứt ở tại cõi Trung giới.

Điểm đạo lần thứ nhì ở tại cõi Hữu hình của Thượng giới hay là cõi Hạ Thiên (4 cảnh thấp).

Điểm đạo lần thứ ba ở tại cõi Vô hình của Thượng giới hay là cõi Thượng Thiên (3 cảnh cao).

Điểm đạo lần thứ tư tại cõi Bồ Đề.

Điểm đạo lần thứ năm tại cõi Niết Bàn.

Bực trung khi được điểm đạo lần thứ nhứt rồi đi đầu thai 7 kiếp mới lên tới bực La Hán. Còn vị La Hán đầu thai 7 kiếp mới thành một vị A sơ ca. Nhưng có thể thâu ngắn thời gian đó hoặc kéo dài ra tùy theo công phu luyện tập của mỗi người.

Trong lúc điểm đạo lần thứ nhứt, Chơn thần xuống nhập với Chơn nhơn trong một lúc mà thôi. Tới chừng được 5 lần điểm đạo thì Phàm nhơn luôn với Chơn nhơn nhập chung với Chơn thần, ba ngôi thành một không còn chia lìa như trước.

Con người lại có tình liên lạc với ngôi thứ ba của Đức Thái Dương Thượng Đế nữa.

 Thành Tiên rồi đi đâu ?

Trước mặt Chơn Tiên có 7 đường, muốn chọn đường nào tự ý.

10 Đường thứ nhứtỞ giúp nhơn loại, lãnh một chức trong Quần Tiên Hội.

20Đường thứ nhìỞ giúp nhơn loại mà không lãnh một chức nào trong Quần Tiên Hội. Ấy là làm một vị Nirmanakaya sanh những thần lực để cho Quần Tiên Hội dùng đặng giúp đời.

30Đường thứ baNhập vào hàng các vị Đại Thiên Thần.

40Đường thứ tưVào Bộ Tham Mưu của Đức Thái Dương Thượng Đế đem mạng lịnh của Ngài khắp các dãy hành tinh của Thái Dương Hệ.

50Đường thứ nămLo công việc tạo lập dãy hành tinh thứ năm để sau thay thế dãy Trái đất mình bây giờ.

60Đường thứ sáuNhập vào Niết Bàn tiến hóa nữa.

70Đường thứ bảy Nhập vào Niết Bàn tiến hóa nữa.

Các Chơn Tiên tu hành thêm càng ngày càng lên cao. Từ 5 lần điểm đạo lên 6 lần, 7 lần, 8 lần, 9 lần, 10 lần v.v. . . Rồi tới một ngày kia thành một vị Thái Dương Thượng Đế, ban đầu thì sanh hóa một Thái Dương Hệ nhỏ, sau một Thái Dương Hệ lớn có đủ nhơn vật như Thái Dương Hệ của chúng ta bây giờ đây.

Hiểu được đoạn trên đây thì giải quyềt được 3 câu hỏi:

Con người là ai ? Xuống cõi Trần làm chi ? Con người sẽ về đâu ?

 Xin nói tóm lại con người là Chơn Thần của Đức Thượng Đế, nói cách khác, chúng ta là con của Ngài. Bởi thế hết thảy con người trên thế gian đều là anh em một nhà. Chúng ta phải thương yêu nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Mà dầu có bị màn vô minh che lấp, nên còn nhiều người hung hăng tàn bạo đi nữa thì bổn phận ta đã biết chơn lý rồi, phải lo kiếm phương thế dìu dắt họ vào con đường chánh giác. Ngoài sự lo lắng cho được ăn no mặc ấm, con ngươi còn phải luôn luôn trau dồi tâm tánh và mở mang trí hóa đặng giúp ích cho quần sanh thì mới mau đoạt được mục đích của Đức Thượng Đế đã định sẵn cho Trái đất nầy. Ôi ! nếu để cuộc đời lôi cuốn mãi, e cho sảy chơn một bước thì ngàn kiếp sa đà. Sau bị đau khổ quá mới chịu quay đầu theo đường phải thì cũng mất ngày giờ và chậm trễ hơn chúng bạn nhiều lắm. Chớ nên lầm tưởng rằng kiếp nầy không học đạo thì còn kiếp sau. Không ắt được dễ dàng như thế đâu. Bởi vì kiếp sau phải trả những quả xấu đã gây ra mấy kiếp trước và kiếp nầy thì e gặp hoàn cảnh khó khăn, bước đường tiến hóa bị ngăn trở, dầu gặp chơn lý cũng không còn sức hấp thụ được nữa. Cho nên kiếp nầy phải khởi sự học hỏi những lẽ nhiệm mầu của Tạo hóa, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, thì kiếp sau mới mong tìm lại đường phản bổn huờn nguyên, và sửa đổi số mạng. Hãy tìm cái gốc, cái Chơn tâm Bổn tánh, đừng học cái ngọn và chạy theo ảo ảnh mà mua lấy cái thất vọng về sau.

CHÚ THÍCH


[6] Năm 1949

[7] Cũng có vài linh hồn tiến hóa đã cao, song vì lòng nhơn từ  lại đầu thai vào giống dân thấp hèn đặng dìu dắt như Bosker Washington là một.

[8] Có những vị cũng 7 lần và 6 lần điểm đạo song không lãnh một chức tại Thiên Đình.

[9] Xin xem cuốn Giảng lý Dưới Chơn Thầy.

Một phản hồi to “LUÂN HỒI – Chương thứ tư”

  1. […] Chương thứ tư […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: