TSP's Weblog

Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ

LUÂN HỒI – Chương thứ ba

Posted by Thái Trịnh on 13/06/2011

CHƯƠNG THỨ BA

  TẠI SAO CÓ SỰ SAI BIỆT GIỮA QUẦN CHÚNG ?

Trong Đạo đức dạy rằng: Không phải chúng ta sanh ra lần thứ nhứt ở cõi Trần đâu?

Khi có xác thịt nầy chúng ta đã trải qua nhiều kiếp luân hồi, làm sắt đá, hết sắt đá tới cây cỏ, hết cây cỏ tới thú vật, hết thú vật mới tới kiếp làm người bây giờ. Chúng ta mang cái lốt người đã mấy triệu năm rồi, chúng ta đầu thai đi, đầu thai lại biết mấy lần, mỗi lần nhờ sự kinh nghiệm học hỏi mà tiến hóa một bực. Cõi trần và luôn cả vũ trụ là một cái trường học lớn. Trời sanh ra đặng dạy dỗ các loài, từ tinh chất cho tới các hạng thiên thần, không phải chỉ để riêng cho con người mà thôi. Ta hãy xem trường sơ đẳng chia ra năm lớp: lớp năm, lớp tư, lớp ba, lớp nhì, lớp nhứt. Mỗi lớp đều có vài chục học trò, mấy trò nầy từ tánh nết cho đến trí thức, không đồng bực với nhau, có trò hiền, có trò dữ, có trò khôn, có trò dại, có trò láo xược, có trò thật thà, có trò siêng năng, có trò biếng nhác, có trò sáng láng, có trò u mê. Tại sao có sự khác nhau như vậy ?

Nói về phần thiêng liêng hay là Chơn thần, thì không có ai lớn, ai nhỏ, ai cao, ai thấp, song về phần linh hồn thì có những linh hồn đã già, những linh hồn còn trẻ, bởi vì các linh hồn không đi đầu thai một lượt với nhau. Những linh hồn nào xuống trần cả chục triệu năm trước và đầu thai nhiều kiếp rồi thì biết được những điều hơn thiệt, những lẽ thị phi, học hỏi những khôn khéo thì tự nhiên phải giỏi dắn kinh nghiệm nhiều và làm nhiều điều lành hơn những linh hồn đi đầu thai mới có vài triệu năm. Cũng như đứa học trò lớp nhì giỏi hơn đứa học trò lớp tư vậy, mấy linh hồn sau nầy chưa được sáng suốt cho nên thường làm nhiều việc chẳng lành. Những bài nào mà kiếp trước đã học hỏi rồi, kiếp nầy ta gặp lại thì ta hiểu liền mau lẹ hơn những người mới học mấy bài đó lần thứ nhứt.

Nếu hiểu được nguyên nhân của sự sai biệt giữa quần chúng là sự tiến hóa bất đồng bởi các linh hồn không sanh đồng thời với nhau thì ta chỉ biết thương xót, khoan dung và lo giúp đỡ những người nào còn tối tăm, còn thô lổ, còn hung dữ, còn ích kỷ, còn tham lam, vân vân …, bởi họ là những linh hồn còn thơ chớ không nên ghét vơ hay trách móc họ. Và không có Luân hồi thì lấy đâu mà cắt nghĩa “Tại làm sao có mấy vị Thần đồng ?”

Duyên cớ đó tôi xin giải ra sau đây.

 NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG

Không phải con người học hỏi lúc còn sống ở cõi Trần mà thôi, sau khi thác rồi, lên cõi Trung giới và Thượng giới còn học hỏi thêm nữa. Những bực thiên tài, mà ta trầm trồ khen ngợi bây giờ, mấy vị ấy đã nhiều kiếp chuyên môn về những khoa học, hoặc toán học, hoặc âm nhạc, hoặc thiên văn hoặc văn chương, hoặc mỹ thuật, vân vân rồi …. Bởi các môn học thức đều truyền lại đời sau, nên mới có những vị thần đồng để khai sáng cho đời trên con đường học vấn. Sau đây là những vị thần đồng mà thế giới biết danh.

 NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG BÊN ÂU MỸ

Các Nhạc sĩ

Hồi thế kỷ 17, Haendel mới có 10 tuổi mà đặt những bài thánh ca bằng tiếng La-tin để hát trong nhà thờ Halle.

Mozart nổi tiếng hồi 4 tuổi vì đã biết khảy một khúc cầm ca, tới 11 tuổi thì đặt hai bài ca kịch Finta simplice, Bastien và Bastienne, rồi từ đó về sau danh tiếng lẫy lừng.

Beethoven mà người ta gọi là Thần âm nhạc, 10 tuổi đã đánh những khúc đờn tuyệt diệu.

Paganini mới 9 tuổi mà trong một cuộc hòa nhạc tại thành Gênes (ý) đánh đờn vi-ô-long (violon) hay cho đến đỗi thiên hạ đều vỗ tay khen ngợi.

Liszt hồi nhỏ nổi tiếng kỳ tài, vừa mới 14 tuổi đã diễn một bài ca kịch, có một hồi gọi Don Sanche hay là Château d’amour (Lâu đài tình ái).

Ông Gabriel Delanne gặp tại Hội nghị Tâm lý học, năm 1900, cậu bé Petito Ariola mới có 3 tuổi rưởi đánh đờn bi-da-nô (piano) trong lúc xuất kỳ bất ý, biến hóa nhiều khúc thâm trầm.

Năm 1911, cậu bé Ferreros mới có 4 tuổi rưởi mà điều khiển đội âm nhạc ở Folies Bergères một cách chắc chắn và khéo léo.

Các Họa sĩ

Michel Ange mới có 8 tuổi mà thầy của ngài là ông Ghirlandajo quả quyết rằng không còn cái chi mà dạy ngài nữa.

Hồi còn bé thơ, Rembrandt ham mê nghề vẽ cho đến đỗi Lombroso chắc chắn rằng cậu bé nầy vẽ hay như một họa sư, trước khi cậu biết đọc.

 Nhà họa sĩ Marcel Lavallard, bức tranh đầu tiên của ngài được đem chưng nơi phòng triển lãm hồi ngài có mười hai tuổi.

Cậu Van de Kefkhore de Bruges thác ngày 12 Août 1873 lúc cậu mới có 10 tuổi 11 tháng để lại 350 bức tranh mà vài cái, theo lời ông Adolphe Siret có chân trong Hàn lâm viện khoa học, văn chương và mỹ thuật ở nước Bỉ nói, có thế ký tên các họa sĩ trứ danh như Diaz, Salvator Rosa, Corot vân vân…

Các Bác sĩ, Văn sĩ và Thi sĩ

Hermozène mới 15 tuổi đã dạy khoa Tu từ học (Rhétorique) cho vua Marc Aurèle.

Hồi 13 tuổi Pascal tự một mình tìm lại được 32 đề nghị d’Euclide; ngài là nhà kỷ hà học, vật lý học, triết học và kiêm văn sĩ một lượt. Ngài đứng đầu hết thảy các bực thiên tài trong thế kỷ 17.

Pierre de Lamoignon mới 13 tuổi đã đặt thi văn bằng chữ Hi lạp và chữ La tin rất hay. Ngài cũng giỏi về pháp luật như văn chương vậy.

Gauss de Brunswick nhà Thiên văn và Toán học kỳ tài, hồi có 3 tuổi đã giải quyết những bài toán đố rồi.

Ericson thác năm 1869, giỏi về cơ giới học, cho đến đỗi mới 12 tuổi được chánh phủ phong làm thanh tra cái kinh lớn đào thông ra biển ở Thụy điển (Suède). Một mình ngài điều khiển sáu trăm dân phu.

Victor Hugo mới 13 tuổi được Tao đàn ở Toulouse thưởng về những bài thi phú của ngài làm.

Năm 1837, cậu bé chăn chiên “Vita Mangiamel” đã làm cho mấy vị thông thái trong hoàn cầu phải hết sức ngạc nhiên vì cậu toán hay một cách lạ thường. Có một nhà số học đố cậu câu nầy: “Vậy chớ con số nào mà nó nhơn cho nó 3 lần (élevé au cube) rồi cộng với 5 lần nó nhơn cho nó (5 fois son carré) thì bằng 42 lần nó cộng với 40”. Không đầy một phút cậu trả lời : “Ấy là số 5”.

 Những vị biết nhiều thứ tiếng

William Sidis xứ Etat de Massachussets biết đọc và biết viết hồi 2 tuổi, tới 4 tuổi biết nói bốn thứ tiếng, 12 tuổi được vào trường Massachussets Institute of Technology, là nơi muốn được nhập học phải đúng 21 tuổi. Ngài diễn thuyết tại Đại học đường Harward cho các vị giáo sư khoa Cao đẳng toán học nghe về vấn đề “Bề thứ tư của không gian” (tứ nguyên không gian 4e dimension) làm cho các thính giả kinh dị vô cùng.

Young, người tưởng tượng ra thuyết ánh sáng truyền đi như sóng dợn, hồi 2 tuổi đã đọc trôi chảy, 8 tuổi biết cặn kẽ sáu thứ tiếng.

 Cậu bé khác tên là William Hamiton học tiếng Hê-brơ (hébreu) hồi 3 tuổi : tới 7 tuổi sự học thức của cậu còn rộng hơn nhiều vị đi thi lấy cấp bằng Thạc sĩ. Tới 13 tuổi biết 12 thứ tiếng. Lúc 8 tuổi cậu làm cho những người xung quanh hết sức ngạc nhiên cho đến đỗi một nhà thiên văn Yệt-lăng-đe (Irlandais) nói rằng: “Tôi không nói nó sẽ, tôi nói nó là nhà số học hạng nhứt trong đời nó”.

Cậu Jaques Christon người xứ Ê-cốt (Ecossais) mới 15 tuổi mà tranh biện bằng tiếng La-tin, tiếng Hi-lạp, tiếng Hê-brơ và tiếng A-rập bất câu là vấn đề nào.

Pic de la Mirandole hồi còn bé đã lảu thông tiếng La-tin, tiếng Hi-lạp rồi kế đó tiếng Hê-brơ và tiếng A-rập. Tới 20 tuổi sự thông minh của ngài không ai sánh kịp trong thời đại đó.

Barattie Jean Philippe sanh năm 1721 tại Schwabach trong Margraviad d’Auspach thác năm 1740, hồi 7 tuổi đã thạo tiếng A-lơ-măng, tiếng Pháp, tiếng   La tin, tiếng Hê-brơ, 2 năm sau ngài làm cuốn tự điển những tiếng khó hết sức. Tới 13 tuổi ngài dịch cuốn “Cuộc hành trình của Bengamin Tudèle” bằng tiếng Hê-brơ ra tiếng Pháp, rồi năm sau ngài được làm giáo sư tại Đại học đường Halle. Cũng trong lúc ấy ngài xuất bản nhiều bài bình luận rất uyên bác, trong tàng thơ viện Đức quốc. Ngài làm việc quá nên chết về lao tổn năm 1740 hồi mới 19 tuổi.

Henri de Hanneke sanh tại Lubeck năm 1721 mới đẻ đã biết nói. Tới 2 tuổi đã biết 3 thứ tiếng. Cậu học viết trong vài ngày, và tập làm những bài diễn văn vắn tắt. Tới 2 tuổi rưởi cậu cho khảo hạch về địa dư và sử ký cận đại. Cậu sống là nhờ sữa của bà vú. Người ta muốn dứt sữa cậu, cậu héo mòn rồi chết ngày 17 Juin 1725 tại Lubeck và quả quyết có hy vọng về kiếp sau.

Trong số các nhà từ ngữ hiện đại nên kể ông Terombetti vì Ngài giỏi hơn các bực tiền nhơn. Lúc còn bé ngài học ở trường tiếng Pháp và tiếng A lơ măng, ngài học sách của Voltaire và Gœthe. Ngài chỉ đọc cuốn sách nói về đời của Abdel Kader mà ngài thuộc tiếng A rập. Một người Ba tư có dịp đi ngang qua Bologne dạy ngài biết tiếng Ba tư trong vài tuần lễ. Hồi 12 tuổi ngài học một lượt tiếng La tin, tiếng Hy lạp và tiếng Hê brơ. Từ đó ngài học gần hết các sanh ngữ và tử ngữ trong hoàn cầu. Các thân bằng của ngài quả quyết rằng bây giờ ngài thuộc ba trăm thổ ngữ Đông phương.

 NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG ĐỜI NAY

Một lương y năm tuổi

Chuyện nầy mới nghe qua lạ lùng lắm, song là sự có thật. Thái y viện thành Nouvelle Orléans bên Huê Kỳ có cấp bằng cho một viên học sanh mới có 5 tuổi tên Villie Gwin, vốn con của một lương y ở tại đó. Các vị giám khảo nói rằng: Tự thuở giờ không có một vị cử tử nào học bộ xương cốt con người bằng đứa nhỏ nầy. Nó thông thạo một cách lạ thường lắm.

Một vị thần đồng tại nước Đan Mạch (Danemark)

Có một cậu bé con tên là Bant Stromtrens năm nay độ 16 – 17 tuổi, mà đã là một nhà trứ danh trong khoa học giới ở Âu Châu. Mỗi khi có bài ngôn luận của cậu xuất bản thì các nhà khoa học danh giá ở Anh Pháp đều khen ngợi lắm.

Mới đây, người Na Uy (Norvège) lại mua bản quyền một bộ sách Thiên văn học của cậu đặng ấn hành cho nhơn dân học. Bộ sách nầy cậu biên tập từ ngày mới 13 tuổi, phong vân tinh tú rất tinh tường, ngôn luận rất đích xác, lại có nhiều điều chiêm nghiệm mới, lý tưởng mới, giả thuyết mới, có thể giải được những vấn đề nghi nan của Thiên văn giới xưa nay, nên Hàn lâm viện nước Na Uy lấy làm kính phục mới ấn hành để làm sách giáo khoa thư. Người ta nói rằng cái cách học thức của cậu là nhờ về gia đình giáo dục nhiều, nguyên ông thân sanh cậu là một nhà Thiên văn học nổi tiếng, nên khi cậu còn nhỏ thì cũng đã luyện tập kỹ càng rồi, cậu lại là một người thông minh tuyệt thế nên học hành mau tấn tới lắm.

                                  (Lục Tỉnh Tân Văn ngày 26 Mai 1926)

Một nhà khoa học bé con

Tại Luân đốn có một người tên Sa Đức mới 11 tuổi mà thông minh lạ thường. Cậu ta là con một nhà khoa học trứ danh, nên chi cậu còn nhỏ mà cậu đã tinh thông được sự nghiên cứu khoa học. Mỗi khi cậu luận thuyết bài nào thì cũng được các nhà khoa học ngợi khen lắm. Về đường toán học, nghệ học thì cậu lại càng giỏi nữa, những bài toán khó hay nhiều con số đến đâu mặc lòng, cậu cũng tính miệng ngay đi được. Mới đây cậu lại chế ra một cái máy bay rất nhỏ để đi liệng trên mặt thành Luân đốn, ai cũng khen là tài giỏi. Chánh phủ có cấp cho cậu một cái văn bằng kỹ sư và một cái thẻ bằng vàng để khuyến khích cho người khác; hội khoa học cũng mời cậu dự một chân trong hội.

                                                          K.H.

                                          (Công Luận 26 Juillet 1926).

Một nhà đạo đức bé con

Tại làng Trawaddy Delta ở Rangoon có hai vợ chồng người kia chuyên nghề hạ bạc, sanh đặng một đứa con trai đặt tên là Tun Tyin. Năm nay nó được 9 tuổi. Trước trán nó có hai cục bướu rất lớn, còn đằng sau ót có một cục cũng to. Cặp mắt nó tinh thần lắm. Hồi nó 5 tuổi thì nó giảng đạo còn hay hơn các vị Hòa thượng. Có nhiều ông sư đem mấy chỗ khó khăn của triết lý đạo Phật vấn nạn nó thì nó trả lời xuôi rót và giải rành rẽ nữa. Nó đọc nhiều đoạn kinh mắc mỏ bằng tiếng Ba li (Pali) rồi dịch thuộc lòng bằng tiếng Bụt mết (Burmesse). Ngày 28 Mai 1924 nó ngồi xe hơi đi từ Parmyde tới Prome đường dài 40 cây số. Dọc đường bá tánh đua nhau đón xe chật nức đặng nghe thuyết pháp. Tới Prome nó leo lên cao rồi đứng giữa trời dạy đạo từ 12 giờ rưởi cho tới 2 giờ rưởi. Trời nắng chan chan mà nó không biết mệt mỏi chi. Nếu Tun Tyin đầu thai qua nước Nam chắc là thiên hạ theo làm đệ tử đông lắm [3].

 Thần đồng 4 tuổi

Bên nước Mỹ mới phát hiện một đứa trẻ thần đồng mới có 3 năm 10 tháng mà về đường thí nghiệm tâm lý dẫu các giáo sư và học trò trường Đại học cũng không bằng. Đứa trẻ đó đã thuộc chữ Hy lạp, đã biết cách thức phương trình và Hóa học, lại nói được tên các danh nhơn trong thế giới và tên các kinh đô các nước, đêm nào va cũng xem sách đến 11 giờ mới ngủ. Người cha làm quản lý một nghề bảo hiểm, ông ta nói chuyện với người ta rằng: con tôi một năm nữa sẽ cho vào trường Cao đẳng tiểu học. Đó là điện tín Nữu Ước, cứ như tin ấy thì đứa bé nầy đáng gọi là Thần đồng thật, nhưng theo lời người cha thì ra bên Mỹ không hạn tuổi thi tốt nghiệp và tuổi vào trường Cao đẳng tiểu học ư.

                  (An nam tạp chí số 19 năm Tân tị – 2e S. Mars 1931)

 Những vị Thần đồng bên Phương Đông

Bên Tàu đời Tần thỉ Hoàng, Cam La mới 12 tuổi mà làm Thừa tướng. Bên Nam mình có ông Nguyễn Hiền quê quán tại tỉnh Nam Định, huyện Thượng Nguyên, đời Trần thái Tôn, năm Thiên Ứng Chánh bình,1225, ngài mới được 12 tuổi mà học hành thông minh lắm. Nên thiên hạ gọi là Thần đồng. Nhưng còn biết bao vị khác nữa mà tiếc rằng tôi không biết tên.

 NHỮNG NGƯỜI NHỚ CHUYỆN KIẾP TRƯỚC

Như tôi đã nói khi nảy, con người thác rồi bực trung là năm trăm năm mới đi đầu thai. Nhưng có vài trường hợp, vì một lẽ nào chẳng rõ mà một ít lâu thì trở lại Trần nữa. Các vị nầy nhớ lại việc kiếp trước như mấy việc sau đây:

1.- Chuyện quan Thiếu tá Welsh.

Báo Le Journal ngày 18 – 9 – 1907 đăng bài nầy: “Dân chúng Anh ở Rangoon rất chấn động về những lời biểu lộ của một đứa con nít. Báo giới ở hải ngoại có thuật một chuyện gọi rằng Luân hồi xảy ra ở tại Rangoon. Quan Thiếu tá Welsh từ trần gần thành nầy năm 1903.

Mới đây một đứa nhỏ 3 tuổi làm cho cha mẹ nó sửng sốt vì nó nói một cách nghiêm nghị rằng: nó là quan Thiếu tá Welsh đầu thai lại. Nó mới tả rành mạch tại chỗ ở của Thiếu tá, nó kể lại những công việc của ngài làm và số ngựa tơ của ngài nuôi khi trước. Chắc chắn hơn nữa, nó thuật lại cách chết quan Thiếu tá trong khi ngài đi du lãm trên hồ Mektelea với hai người khác. Cha mẹ nó mới hết sức ngạc nhiên, vì cậu bé nào biết quan Thiếu tá và gia quyến ngài đâu. Thiên hạ đồn rùm chuyện dị kỳ nầy, họ bàn tán xôn xao làm cho bận lòng các giới khoa học nước Anh.

 2.- Trích lục lời tường thuật của Bác sĩ De Henri Hendsold, sau khi ngài viếng Đức Hoạt Phật ở Tây Tạng tại thành Las sa (Grand Lama à Lhassa).

Cách năm chục năm nay, hai đứa trẻ, một trai, một gái sanh tại làng Okshitgon, một ngày với nhau, trong hai nhà kế cận. Chúng nó lớn lên thường chơi giỡn với nhau tới tuổi trưởng thành thì kết làm vợ chồng.

Chúng nó lập một gia đình cày cấy cánh đồng khô khan bao phủ Okshitgon đặng nuôi sống chúng nó. Chúng nó thương yêu nhau lắm rồi cùng chết một lượt với nhau. Người ta chôn chúng nó ngoài làng rồi quên phứt chúng nó đi vì lúc đó thời cuộc khó khăn; ấy là năm sau khi thành Măn-đa-lay (Mandalay) bị thất thủ, toàn xứ Miến Điện đều nổi loạn. Trong xứ, dân chúng đều mang khí giới, đường sá rất nguy hiểm. Ban đêm nhiều xóm bị lửa cháy đỏ trời, ấy là buổi thảm đạm cho những người ưa chuộng hòa bình. Nhiều kẻ bỏ nhà trốn vào chỗ đông người và gần những cơ quan chánh trị. Okshitgon ở vào chính giữa của một trong những khu bị tàn phá; nhiều người trong làng trốn đi, trong số đó có một người tên Maung Kan và vợ va còn trẻ. Hai vợ chồng nầy tới ngụ tại Kabyn. Hồi còn ở Okshitgon vợ Maung Kan đẻ sanh đôi hai đứa con trai trước khi đi tị nạn một ít lâu. Đứa đầu lòng tên Maung Gyi nghĩa là anh cả, đứa nhỏ tên là Maung Ngé. Hai đứa ở Kabyn lớn lên, biết ăn, biết nói thì cha mẹ chúng nó lấy làm lạ mà chúng nó không kêu nhau là Maung Gyi và Maung Ngé mà xưng hô là Maung San Nyein và Ma Giroin. Ma Giroin là tên đàn bà. Hai vợ chồng Maung Kan mới sực nhớ lại hai tên đó vốn là tên của hai vợ chồng người kia chết tại Okshitgon, cùng một lúc sanh hai đứa nhỏ, bèn dắt chúng nó về Okshitgon đặng thử chúng nó coi. Khi về Okshitgon hai đứa nhỏ biết hết đường sá, nhà cửa, dân chúng và nhìn được quần áo chúng nó mặc kiếp trước. Không còn điều chi ngờ vực nữa. Đứa nhỏ nhớ lại kiếp trước, hồi nó còn làm Ma Giroin nó có mượn 2 ru bi (roupies) của cô Mathet, chồng nó không hay biết, mà nó cũng chưa trả số tịền đó.

Mathet còn sống, người ta hỏi cổ thì cổ trả lời việc đó có thật. Tôi không nghe cha hai đứa nhỏ trả 2 ru bi cho cô Mathet. Tôi có gặp chúng nó trong cơ hội đó. Chúng nó bây giờ được 6 tuổi. Đứa lớn thì mập lùn, đứa nhỏ yếu hơn, có vẻ trầm ngâm như con gái.

Chúng nó thuật lại với tôi nhiều việc kiếp trước của chúng nó. Chúng nó nói rằng sau khi thác rồi, chúng nó phiêu phiêu phưởng phưởng ở trên không chẳng có xác thân và phải trốn tránh trong cây cối, vì tội lỗi chúng nó đã làm, rồi vài tháng sau, chúng nó đầu thai làm hai anh em sanh đôi. Đứa lớn thì nói: Hồi trước thì rõ ràng, tôi nhớ lại được cả thảy, mà mấy việc đó phai lần lần bây giờ tôi không còn nhớ như trước nữa.

3.- Trích lục sự điều tra của Bác sĩ De Calderone.

      Tờ tường thuật của Bác sĩ Dr. Moutin.

Lối năm 1906, báo Paisa Akhabar ở Lahore có thuật chuyện một đứa con gái lối 7 tuổi sanh đẻ tại làng Pendjab, thuộc về gia quyến đạo Hồi Hồi, bổng nhiên trở nên nghiêm nghị và nói như một người đàn bà có chồng. Cô bé cho biết rằng cô có một kiếp trước mà bây giờ cô nhớ rành rẽ các chi tiết của kiếp đó. Kiếp trước cô là vợ một người Ấn Độ, cô nói lớn tiếng và năn nỉ người ta dắt cô lại nhà chồng cũ của cô đặng cô giải quyết một việc trọng hệ. Ban đầu người ta không để ý tới mấy lời đó, nhưng bởi cô khắn khắn một mực, cha mẹ cô phải đem cô lại chỗ cô chỉ, một phần là tại chìu theo cô vì cô làm rầy rà và hăm he, một phần là tại tánh tọc mạch. Khi tới chỗ thì cô bé đi ngay vào nhà nó đã nói như nó biết rành rẽ vậy. Khi nó gặp người chồng kiếp trước thì nó nói nhiều việc làm cho người nầy kinh ngạc và nó biểu va cưới nó. Muốn chỉ đủ bằng cớ rằng nó là vợ trước của va, nó mới biểu người ta đem một cái rương cũ của nó lại, mà từ hồi nó chết tới giờ rương đó vẫn khóa chặt. Nó kể đủ mấy món đồ trong đó. Chừng mở rương ra quả in như vậy. Người chồng cũ và cha mẹ bây giờ không tán thành việc gả cưới vì nó vô đạo Hồi Hồi, còn chồng cũ nó là người Bà la môn. Vì vậy đứa nhỏ bị cha mẹ ép buộc phải trở về nhà.

Bác sĩ Moutin hỏi thêm rằng: muốn cho rõ sự thật tôi có viết thơ cho chủ nhiệm báo Lahore xin ổng cho biết coi chuyện đó có đáng tin hay không và xin ổng cho thêm chi tiết. Ông chủ nhiệm vui vẻ trả lời rằng ông quả quyết những tin tức của báo ông đăng ra có thật như vậy, và khi nào ổng tiếp đặng chi tiết thêm thì ông sẽ gởi đến cho tôi liền. Cách ít lâu tôi viết thơ nhắc ổng thì được thơ ổng trả lời rằng: “Ổng có ướm hỏi thử nhiều lần chuyện đó, song những người dính vào việc ấy đều thủ khẩu như bình, viện lẽ rằng, những tin tức đăng ra làm cho họ áo não, thân bằng họ bực tức, và nếu còn đăng tiếp việc đó trên báo mãi, thì khi cô bé đúng tuổi trưởng thành, họ chắc khó kiếm một người chồng cho nó.

Ông Dr. Moutin nói tiếp rằng: có một chuyện tương tợ như vậy xảy ra hồi năm 1906 có đăng ở các báo chánh tại Bengale cách đây 2 năm (tôi lấy ý nghĩa dịch ra). Ramshadon Guin 45 tuổi vốn dòng Bratyks hertéria là một người dân ở Krolbéria, thuộc về quyền tài phán của Thanah Bhangore khu 24, Parganas. Vợ va tên Manmohini Dassi chết về bịnh dịch tả đã 12 năm rồi; ông thân va là một người Dpchand Mandal trong làng Baota. Sau khi Manmohini thác rồi thì dì của Manmohini ở Balgorh sanh ra một bé gái. Hôm tháng tám tây vừa rồi, cô gái nhỏ nầy tới viếng Bamoumuller với mẹ nó. Tình cờ đi ngang qua Krolbéria, cô mới chỉ cái nhà của Ramshadon và nói rằng: “Cái nhà, cái vườn, với cái hồ nước vốn của chồng đời trước tôi”. Mẹ cô và cô mới vô nhà. Cô bé vái chào một bà già ở đó rồi nói tiếp: “Bà nầy là bà già chồng của tôi hồi đời trước, phòng nầy là phòng của tôi, còn mấy đứa trẻ kia là con của tôi”. Cô bé mới nói với Ramshadon: “Anh là chồng của tôi” và nài nỉ: “Anh hãy cưới tôi, không thì tôi tự vận, tôi chết”. Ramshadon mới biểu cô bé đem vài bằng cớ. Cô bé nói: “Lúc tôi chết, người ta may 6 ru bi (roupie) trong áo dài tôi mà anh lắc lấy đi, anh hãy nhớ lúc tôi nằm trên giường chờ chết, tôi hỏi một chút ít tiền bạc và đồ trang sức cho đứa con trai đầu lòng của tôi. Tôi để lại cho anh một cái chậu đỏ và vài miếng ru băn (ruban) để cột tóc ở trên vách tường và hai cây trâm cài đầu ở trong rương. Ramshadon tìm gặp lại hai cây trâm đã dính đầy những bụi. Cô bé mới biểu Ramshadon kiếm trong rương coi cái áo nhiểu của cô còn tốt hay không ? Ramshadon kiếm gặp mà rách hai chỗ. Cô bé bèn biểu cắt nghĩa coi tại sao vậy, hồi cô bận nó chỉ rách một chỗ mà thôi. Người ta hỏi ra mới biết cô dâu của Ramshadon bận áo đó làm rách một chỗ nữa.

Cô bé nhìn biết mấy đứa con và những người bà con khác và cô kể tên ra. Một người đàn bà hỏi cô bé: “Cô có biết tôi là ai không ?” Cô bé trả lời rằng: “một ngày kia dì gần chết đói, đi lại xin tôi đồ ăn. Tôi cho dì một bát cơm, dì gọi tôi là mẹ dì, bây giờ dì có nhìn tôi được không ?” Ramshadon mới nói với cô bé, va không thỏa thuận về sự cưới cô lại, vì va đã 45 tuổi mà cô bé mới vừa 11 tuổi, nhưng cô bé nài nỉ nói rằng: sau khi cô đi thì mấy đứa con cũng quyết định như cổ. Cổ không muốn về nhà cha mẹ cổ, cổ kêu cha mẹ cổ bằng dì dượng, cha mẹ cổ phải ép buộc cổ về nhà. Nhưng một ít lâu Ramshadon bằng lòng cưới cô.

Krolbéria ở cách thành Calcutta có mười dặm Anh, cái chi thuộc về hộ tịch thì về quyền tái phán của Séaldah. Người ta mới cậy ông Babu Taraknath Riswas, giám đốc văn phòng Séaldah, điều tra việc nầy cho chắc sự thật. Ngày 17 tháng Baisah mới rồi, Ramshadon và vài người ở Krolbéria đi qua Séaldah đặng ghi giấy tờ. Babu Taraknath thừa dịp đó bèn hỏi thăm sự tích. Ramshadon trả lời rằng: “Những điều mà các báo đăng ra đều đúng với sự thật, và những người khác ở chung một làng với va sẽ chứng chắc mấy điều đó như va vậy”. Va quả quyết rằng cô bé biết mặt hết nhữnng người trong làng mà kiếp trước nó có giao thiệp. Khi cô bé nghe Ramshadon không cưới cô thì cô thường khóc lóc. Ramshadon và hương chức mỗi ngày đều được thơ tứ phương người ta gởi tới hỏi thăm cho biết rành rẽ sự lạ lùng ấy. Bởi mấy ổng chẳng có thể trả lời riêng cho từ người, nên cậy ông Taraknath kiếm dùm một phương thế đặng làm vừa lòng họ. Tanaknath liền chịu lãnh phần trách nhiệm cho thiên hạ biết đích xác câu chuyện luân hồi nầy đặng cho các nhà thông thái Âu châu lấy đó làm vấn đề học hỏi. Tờ chứng nhận in ra và ký tên: Amabika Charon Gupta.

 NHỚ CHUYỆN KIẾP TRƯỚC

Trong thành Havane (Cuba) có hai vợ chồng ông Esphugas Cabrera sanh đặng một trai tên là Edouard năm nay được 4 tuổi. Thằng bé nầy sáng lắm và có tánh nói nhiều. Chỗ ngụ của Esphugas vẫn luôn luôn ở đường San José số 44 tại Havane. Nơi đó Torquato Esphugas hùn với một người khác làm chủ một cái nhà in  “Thạch bản” (Typo-litho-graphique). Cậu bé Edouard sanh tại nhà nầy. Cách ít lâu đây, cậu bé nói với mẹ nó là bà Cécile Cabrera như vầy: “Má, tôi có một cái nhà khác hơn cái nhà nầy, hồi trước tôi ở trong một cái nhà sơn màu vàng tại đường Campanario số 69; tôi nhớ chắc chắn như vậy”. Lúc đó bà Cabrera không cho mấy lời nầy là quan hệ, song vài bữa cậu bé lại nhắc lại một lần nữa, làm cho cha mẹ nó để ý tới. Hỏi nó nhiều câu thì nó trả lời như thế nầy: “Hồi tôi còn ở Campanario số 69, cha tôi tên Pierre Saco, mẹ tôi tên Amparo. Tôi nhớ tôi có hai người em nhỏ tên Mercédès và Jean, tôi thường chơi giỡn với chúng nó. Lần chót hết tôi ra khỏi nhà sơn màu vàng, ấy là ngày chúa nhựt 28 Février 1903 và người mẹ khác tôi khóc dữ lắm và từ ngày đó tôi đi xa nhà của tôi. Người mẹ khác đó da trắng, tóc đen, bả làm những nón. Lúc ấy tôi 13 tuổi và tôi mua thuốc của nhà thuốc người Mỹ, vì họ bán rẻ hơn. Tôi để xe máy tôi ở phòng phía dưới, khi tôi đi chơi về. Tôi không phải tên Edouard như bây giờ mà tên Pancho”.

Nghe lời tường thuật rành rẽ và một cách vừa chắc chắn vừa lạ lùng của một đứa trẻ 4 tuổi, cha mẹ Edouard ngần ngại không biết tính sao. Lại một nỗi Edouard chưa hề đến nhà số 69 đường Capanario bao giờ. Sự cảm xúc vừa qua rồi thì hai vợ chồng Esphugas Cabrera mới suy tính coi trong những lời tường thuật của đứa nhỏ có sự thật hay không Vài ngày sau cha mẹ Edouard dẫn nó đi chơi, sau khi qua một khúc quẹo thì tới số nhà 69 đường Capanario mà Edouard và cha mẹ nó cũng không biết nữa. Nhưng khi đi tới thì Edouard nhìn được liền. Nó la lên: “Đây nầy, cái nhà tôi ở hồi trước đó”. Cha mẹ nó mới nói: nếu quả thật thì con hãy vô đó đi. Cậu bé chạy vô trong, đi lại thang leo lên lầu, vô trong mấy cái phòng dường như nó quen biết từ lâu rồi. Nhưng nó trở xuống lập tức, buồn dàu dàu vì nó không gặp cha mẹ nó, mà gặp những người lạ mặt. Nó cũng không kiếm được đồ chơi mà hồi trước nó chơi rất vui với em nó là Mercédès và Jean.

Hai vợ chồng Esphugas Cabrera lấy cái kết quả của cuộc thử lần đầu tiên như thế, bèn tìm kiếm thêm nữa đặng cho đủ những bằng cớ xác thật. Nhờ có chánh phủ giúp sức, cái kết quả của cuộc điều tra như vầy:

10 – Căn nhà số 69 đường Capanario vốn có Antonio Saco mướn ở cho tới sau tháng Février 1903 một ít lâu; hiện giờ Antonio Saco không có mặt tại Havane.

20 – Vợ của Saco là Amparo sanh ba đứa con trai tên là Mercédès, Jean và Pancho.

30 – Trong tháng Février, Pancho chết, sau khi đó gia quyến ông Saco thôi ở nhà đó.

40 – Gần nhà đó có một cái tiệm thuốc mà cậu Edouard quả quyết rằng nó có đi tới đó. Nhiều tờ báo Thần linh bên Mỹ châu như Fiat Lux de Ponce (Porto Rico), Constancia de Buenos Ayres Réformador de Rio de Janeiro, vân vân… đều có đăng bài nầy năm 1907.

 CHUYỆN CON ÔNG HOÀNG ÉMILE DE V V.

Ngày 18 Septembre 1874, ông Hoàng Émile de V V. ở Vervey, nước Thụy sĩ (Suisse) có viết cho tòa soạn báo Thần linh (Revue Spirite) bức thơ nầy đặng cho biết hiện tượng lạ lùng xảy ra cho đứa con trai thứ nhì của ông mới có ba tuổi.

“Cách vài tuần nay, đứa con trai tôi đương chơi và nói chuyện ở trong phòng làm việc của tôi, bỗng chút tôi nghe nó nói tới nước Anh, theo sự biết của tôi thì không ai nói nước Anh cho nó nghe cả, tôi lóng nghe và tôi hỏi nó: “Con biết nước Anh sao ?” Nó bèn trả lời: “À, biết chớ. Ấy là xứ tôi ở hồi đó, lâu lắm rồi.”

– Con còn nhỏ như bây giờ phải không ?

– Không, tôi lớn hơn, tôi có râu dài.

– Mẹ con và cha con có ở bển không ?

– Không, tôi có một người cha và người mẹ khác.

– Con làm gì ở đó ?

– Tôi ưa chơi lửa lắm, rồi có một lần kia tôi phỏng nặng quá, nên chết đi”.

 Đầu thai làm con hai lần

1.- Báo Banner of Light tại Boston ngày 15 Octobre 1892 có đăng chuyện nầy vốn của ông Issaac G. Forster là một người có danh giá thuật lại.

Mười hai năm trước tôi ở địa phận Effingham (Illinois) tôi có bỏ một đứa con gái tên Mari tuổi vừa cập kê. Năm sau tôi không ở Effingham nữa, tôi qua ngụ tại Dakota, vợ tôi sanh đặng một gái đặt tên Nên Ly (Nellie) năm nay được 9 tuổi. Hồi nó biết nói cho tới bây giờ nó không chịu nó tên Nên Ly, nó cứ nói nó tên Mari mà thôi. Mới đây tôi có việc nên trở về Effingham, tôi dắt con Nên Ly theo. Tới đó nó liền biết nhà cũ của tôi và nhiều người mà con Mari quen thuộc hồi trước. Con Nên Ly không thấy cảnh trường của con Mari học khi xưa lần nào mà nó tả hình trạng trúng hết. Trường nầy cách nhà cũ của tôi lối một ngàn rưởi thước. Con Nên Ly xin tôi dắt nó lại trường đó; đến nơi nó chạy lại chỗ chị nó ngồi hồi trước và nói rằng: “Chỗ nầy là chỗ của tôi đây”.

Chuyện nầy cũng có đăng vào báo “Globe Démocrate” ở Saint Louis ngày 20 Septembre 1892 và báo Le Brooklyn Eagle, báo Le Milwankee Sentinel ngày 25 Septembre 1892.

2.- Năm 1912, ông quan ba Florindo Batista có gởi bức thơ nầy cho chủ bút báo Ultra bên Ý đại lợi đặng đăng cho thiên hạ xem [4].

Nhằm tháng tám năm 1905 (Août 1905) một đêm kia vợ tôi nằm trong phòng chưa ngủ, bỗng thấy đứa con gái nhỏ của tôi thác 3 năm trước, hiện ra bộ tịch vui vẻ chạy lại nói với má nó như vầy: “Má ôi, con trở về đây”… Vợ tôi giựt mình ngồi dậy thì con tôi đã biến mất. Lúc ấy nó có thai được 3 tháng rồi. Chừng tôi về, vợ tôi đang hồi hợp, nó thuật chuyện lạ lùng đó lại cho tôi nghe. Trong trí tôi tưởng nó hôn mê nên thấy như vậy, song tôi không muốn cãi cọ với nó làm chi. Tôi cũng bằng lòng nếu sau nó đẻ con gái thì lấy tên Bạch đặt lại cho đứa nhỏ [5].

Lúc ấy tôi chưa biết Đạo là cái chi, ai nói với tôi có sự Luân Hồi thì tôi cho người đó là điên, vì tôi chắc một phen thác rồi thì không hề khi nào đầu thai lại bao giờ. Sáu tháng sau, nhằm tháng hai, năm 1906 (Février 1906) vợ tôi sanh một gái giống in như con nhỏ trước, con mắt cũng lớn và đen huyền, tóc cũng rậm và quắn. Tuy giống như vậy chớ trong lòng tôi cũng không tin, mà vợ tôi mừng lắm vì chắc điềm chiêm bao ứng nghiệm, con nhỏ trước đầu thai lại. Bây giờ đây con nhỏ tôi được 6 tuổi, nó mạnh dạn và cũng khôn ngoan như chị nó.

Hồi đứa con trước tôi còn sống, tôi có mướn một người đàn bà nước Thụy sĩ (Suisse) tên Mari ở giữ nó. Người nầy nói ròng tiếng Lang sa và có một bài ca rất êm tai, hễ cất tiếng ca một chập thì con tôi ngủ liền.

Khi nó thác rồi, cô Mari trở về xứ sở, hai vợ chồng tôi không cho trong nhà ca bài đó nữa, vì nghe tới thì động lòng nhớ con tôi vô hạn. Đã 9 năm rồi, hai vợ chồng tôi quên phứt bài ca đó đi. Nhưng tuần rồi đây, hai vợ chồng tôi đương ở trong phòng viết, gần phòng con Bạch ngủ, bỗng nghe văng vẳng bài ca đó.

Ban đầu hai vợ chồng tôi không biết tiếng con tôi, chừng đi lại gần phòng nó thì thấy nó ngồi trên giường ca rặt ròng tiếng Lang sa. Bài ca nầy không ai dạy nó.

Nó không biết tiếng Lang sa đâu, nó có nghe mấy chị nó nói một hai tiếng mà thôi. Vợ tôi làm bộ như thường và hỏi nó rằng: “Con ca bài gì đó ?” Nó trả lời: “Tôi ca một bài ca Tây”. Mẹ nó hỏi thêm: “Ai dạy con đó”. Nó nói: “Không ai dạy hết. Tôi biết một mình tôi”. Nói rồi nó ca tiếp hết bài coi bộ vui vẻ hết sức và dường như trọn đời nó không có ca bài nào hay hơn bài đó nữa.

Chư vị khán quan xem bài nầy tự ý muốn luận cách nào cũng được. Phần tôi, tôi nói: “Con người thác rồi đầu thai lại”.

 DÙNG PHÉP THÂU THẦN HỎI CHUYỆN QUÁ KHỨ VÀ CHUYỆN VỊ LAI

Quên chuyện kiếp trước đó là lẽ thường, song sau khi bị thâu thần ngủ mê man rồi thì con người có thể thuật lại những việc đã làm hồi mấy năm về trước, lúc còn nhỏ và luôn tới kiếp đã qua rồi. Như chuyện dưới đây:

 Sát phu quả báo

Ông Hoàng Adam de Wiszincwski nhà số 7 đường Débarcadère Paris có thuật cho tôi câu chuyện sau đây. Có vài người chứng trong vụ nầy còn sống và chỉ chịu kể tên ra bằng mấy chữ đầu mà thôi. “Ông Hoàng Galitzin, Hầu tước B, Công tước R, trong mùa hè năm 1862 hội hiệp với nhau tại suối Hombourg.- Một buổi chiều kia, sau khi dùng cơm trễ lắm, ba vị mới đi dạo trong hoa viên rạp hát Casino. Bổng gặp một người đàn bà nghèo khổ nằm trên băng. Ba vị mới lại gần hỏi thăm cô đó, rồi mời cô lại nhà hàng dùng cơm tối. Cô ăn coi ngon lành lắm, xong rồi ông Hoàng Galitzin lại có ý thâu thần cô. Ngài sè bàn tay đưa qua đưa lại trên mình vài ba cái thì cô ngủ. Khi cô ngủ mê man rồi thì cô vụt phát nói tiếng Lang sa rất giỏi làm cho mấy người có mặt tại đó hết sức ngạc nhiên, bởi ngày thường cô chỉ biết nói tiếng thổ ngữ A-lơ-măn, song dở lắm. Cô thuật lại rằng cô đầu thai nghèo khổ đặng đền tội ác của cô đã làm trong kiếp trước hồi thế kỷ thứ 18. Lầu đài cô ở tại Bretagne gần mé biển, vì cô ngoại tình nên cô xô chồng cô từ trên gành té xuống biển chết tươi đặng cô rảnh tay. Cô chỉ chỗ cô phạm tội một cách rành rẽ. Nhờ mấy lời điềm chỉ đó ông Hoàng Galitzin và Hầu tước B đi tới Bretagne chia nhau điều tra hai phía, cái kết quả vẫn in như nhau. Ban sơ ngài hỏi thăm nhiều người, không có ai cho được tin tức chi cả, sau gặp mấy ông kỳ lão, mấy ổng nhớ lại có nghe cha mẹ thuật chuyện một người tiểu thơ đài các, nhan sắc mặn mà, xô chồng xuống biển chết đi. Những điều của người đàn bà khốn khổ ở Hombourg thuật lại, được nhìn nhận là đúng với sự thật. Ông Hoàng Galitzin trở lại Pháp đi ngang qua Hombourg có hỏi thăm quan cảnh sát lai lịch người đàn bà đó, thì quan cảnh sát trả lời cô ấy dốt đặc, biết nói tiếng thổ ngữ A-lơ-măn và sống là nhờ cách đi lại với bọn lính.

 Trong cuốn “Những kiếp luân hồi” (Les vies successives), quan Đại tá (Colonel) De Rochas có thuật những sự thí nghiệm của ngài với 19 người đồng tử. Có những chuyện hay, những vị nào muốn khảo cứu về những việc huyền bí nên xem cuốn đó.

Tôi xin thuật lại chuyện Đại tá thâu thần một vị đồng tử hỏi việc vị lai cho các bạn nghe.

Hồi năm 1900, Đại tá hỏi thăm đồng tử những việc đồng tử sẽ làm từ ngày, từ giờ, cho tới năm 1917, đồng tử trả lời vắn tắt về tương lai của va. Đại tá hỏi đồng tử: “ Ngài còn giúp việc với tôi không ?” Đồng tử lấy làm lạ trả lời rằng: Làm việc với ông hả ! Tôi có biết ông là ai đâu ?

– Ủa ! Ngài không biết tôi sao, coi kìa ?

– Ờ ! ông giống một cách kỳ lạ một người tôi có quen biết, mà tôi không biết ông thật. Ông là ai ?

– Sao vậy ! Ngài không biết tôi là Đại tá Rochas sao ?

– Đồng tử vùng bật cười khan. Không mà. Ai cũng biết ông Rochas thác đã ba năm rồi. Câu trả lời đó làm cho ông Rochas sửng sốt cho đến đỗi ông phải tỉnh đồng tử liền, bỏ luôn cuộc thí nghiệm.

Quả thật, ông Rochas thác nhằm tháng Octobre 1914. Tôi xin nói thêm rằng dùng phép thâu thần hỏi chuyện quá khứ vị lai có điều nguy hiểm đến tánh mạng đồng tử. Phải biết phương pháp và kinh nghiệm hai ba chục năm mới nên thử, người mới học không nên thí nghiệm mà mắc nhơn mạng có ngày.

Nói đến kiếp Luân hồi thì có người lo sợ, vì kiếp này đau khổ đã nhiều, e cho kiếp sau cũng không tránh được tai nạn. Luật Trời rất công bình, nếu ta không gieo trồng giống xấu thì bao giờ gặt những trái đèo. Không những chỉ riêng có con người mới luân hồi mà thôi, vạn vật đều phải chịu luật thay hình đổi dạng.

Các ngôi tinh tú đương vận chuyển trên không trung bây giờ đây, tới một ngày kia sẽ tan ra nguơn khí rồi đúng ngày giờ thì sanh hóa lại như cũ. Cũng như hết ngày thì tới đêm, hết đêm trở lại ngày. Nước sông, biển, bị nắng rút thành hơi bay lên hóa mây. Mây gặp luồng gió lạnh đặc lại rớt xuống thành mưa, nước mưa chảy xuống sông, biển, rồi hóa ra hơi nước như trước.

Trong trời đất không có vật chi bền bỉ cả.


CHÚ THÍCH


[3] Bài nầy đăng vào Thần linh tạp chí (Revue Spirite) nhưng vì thời cuộc, tôi đã mất số đó nên không nhớ chắc được ngày tháng. Mấy bài kia cũng vậy, nếu tên riêng có viết sai xin các bạn miễn nghị.

[4] Bài nầy có dịch ra tiếng Lang sa và đăng báo Thần linh tạp chí năm 1912.

[5] Bạch (Blanche) là tên của đứa con gái đã thác.

Một phản hồi to “LUÂN HỒI – Chương thứ ba”

  1. […] Chương thứ ba […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: